Trang

Tài Liệu Chữa Bệnh Đông Y Nhân Gian về các vị thuốc

Tài Liệu Chữa Bệnh Đông Y Nhân Gian về các vị thuốc, bài loại thuốc và Cách chữa bệnh Y học cổ truyền tốt nhất, Tài liệu khí công chữa bệnh Y Đạo

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

Đồng thuận đối với việc quản lý giảm đau, an thần và sảng ở người lớn liên quan đến COVID-19

Đồng thuận đối với việc quản lý giảm đau, an thần và sảng ở người lớn mắc hội chứng suy hô hấp cấp tính liên tưởng đến COVID-19

Consensus for the management of analgesia, sedation and delirium in adults with COVID-19-associated acute respiratory distress syndrome

, , , , , , ,

Rev. bras. ter. intensiva 33 (1) • Jan-Mar 2021 • https://doi.org/10.5935/0103-507X.20210005

Dịch bởi: BS. Đặng Thanh Tuấn – BV Nhi Đồng 1

TÓM TẮT

Đối tượng:

Để đề xuất các chiến lược mau chóng cho một cách tiếp cận toàn diện để giảm đau, an thần, chống sảng, vận động sớm và sự tham dự của gia đình cho bệnh nhân mắc hội chứng suy hô hấp cấp do COVID-19, xét đến nguy cơ lây cao ở các nhân viên y tế, thì phương pháp điều trị nhân đạo mà chúng tôi phải cung cấp cho bệnh nhân và sự bao gồm của gia đình bệnh nhân, trong bối cảnh thiếu các chiến lược điều trị cụ thể chống lại virus trên toàn cầu cho đến nay và sự thiếu hụt tiềm năng về nguồn lực y tế.

Phương pháp:

Một đánh giá không hệ thống về chứng cứ khoa học trong cơ sở dữ liệu thư mục chính đã được thực hiện, cùng với kinh nghiệm và đánh giá lâm sàng trong nước và quốc tế. rốt cục, các thành viên của Ủy ban Giảm đau, An thần và Sảng của Sociedad Argentina de Terapia Intensiva đã hợp nhất được các khuyến cáo.

Kết quả:

Các khuyến cáo đã được hợp nhất và các công cụ đã được phát triển để bảo đảm một cách tiếp cận toàn diện để giảm đau, an thần, chống sảng, vận động sớm và sự tham dự của gia đình cho bệnh nhân người lớn bị hội chứng suy hô hấp cấp do COVID-19.

luận bàn:

Với thứ tự mới được tạo ra trong các liệu pháp điều trị chuyên sâu do đại dịch COVID-19 đang tiến triển, chúng tôi đề xuất không bỏ qua các phương pháp thực hiện tốt thường nhật mà hãy điều chỉnh chúng cho ăn nhập với bối cảnh cụ thể được tạo ra. Sự đồng thuận của chúng tôi được tương trợ bởi bằng chứng khoa học và kinh nghiệm trong nước và quốc tế và sẽ là một công cụ tư vấn hấp dẫn trong các liệu pháp chuyên sâu.

GIỚI THIỆU

Bệnh Coronavirus 2019 (COVID-19) là một bệnh lý đường hô hấp ở người do nhiễm loại coronavirus mới được xác định bằng từ viết tắt SARS-CoV-2. (1) Vào ngày 11 tháng 3 năm 2020, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã ban bố COVID-19 một đại dịch, và kể từ thời khắc đó cho đến ngày 10 tháng 10, khoảng 36.754.395 trường hợp được xác nhận và 1.064.838 trường hợp tử vong đã được thưa trên toàn thế giới. Các nước Châu Mỹ. (2,3)

Không có loại thuốc cụ thể chống lại loại vi rút này hoặc một loại vắc xin có sẵn trên toàn cầu. mặc dầu dexamethasone và hydrocortisone đã được chứng minh là cải thiện khả năng sống sót trong những trường hợp nghiêm trọng của COVID-19 và heparin đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu (cũng trong những trường hợp nghiêm trọng), bây giờ chiến lược tốt nhất để ứng phó với đại dịch là phòng ngừa lây truyền qua công các biện pháp chính sách. (4) thời kì ủ bệnh của nhiễm SARS-CoV-2 là 2 đến 14 ngày, và hồ hết các bệnh nhiễm trùng đều lây từ người sang người, có khả năng truyền nhiễm cao. (5) Bệnh viện Brigham và Phụ nữ, Khoa Nội tổng quát, của Trường Y Harvard đã đề xuất một phân loại điều trị-lâm sàng của bệnh chia quá trình của bệnh thành các thời đoạn khác nhau và tuần tự xác định 2 nhóm bệnh lý chồng chéo nhưng khác nhau: nhóm thứ nhất do vi rút gây ra và nhóm thứ hai do phản ứng của vật chủ đối với vi rút. (6) thời đoạn I hoặc bệnh nhẹ xảy ra tại thời khắc được tiêm chủng và giai đoạn đầu của bệnh; giai đoạn II xảy ra khi thương tổn phổi được thiết lập trong người; và tuổi III hoặc bệnh nặng có biểu thị như viêm quá phát toàn thân ngoài phổi.

Tỷ lệ mắc và tử vong do COVID-19 gia tăng phần đông là do viêm phổi cấp tính do vi rút tiến triển thành hội chứng suy hô hấp cấp tính (ARDS). hầu hết các trường hợp ở bệnh nhân cao tuổi có bệnh đi kèm (béo phì, tiểu đường, bệnh thận kinh niên, tăng áp huyết, bệnh tim và bệnh phổi mãn tính). (ICU). (7-11) Ở nước ta, một chính sách công sớm đã tạo ra thời kì để hệ thống y tế chuẩn bị về năng lực đối phó với đại dịch, đặc biệt quản lý để tăng nguồn cung cấp vật tư cần thiết cho bệnh viện và 12.450 giường bệnh, nhiều hơn gần 50% so với điều kiện ICU trước đại dịch. ở tất tật các tỉnh nơi thực tại không có sự lưu hành của vi rút trong cộng đồng. thực tại này đã làm cho việc áp dụng các quy trình khác nhau trong ICU trở thành cần thiết, cốt là do việc sử dụng các nguồn lực và chăm nom y tế tăng theo cấp số nhân để giảm nguy cơ lây truyền ở nhân viên y tế.

Trong ICU, cách tiếp cận toàn diện nhằm đạt được sự thoải mái, an toàn và tạo điều kiện cho các can thiệp hỗ trợ sự sống cho những bệnh nhân nguy kịch với COVID-19 ARDS đốn bao gồm đánh giá có hệ thống về giảm đau, an thần và sảng (ASD) trong coi ngó quan yếu, ngoài khả năng vận động sớm và gắn kết gia đình. hết thảy điều này được phản ánh trong chỉ dẫn thực hành lâm sàng năm 2018 về phòng ngừa và quản lý cơn đau, kích động/an thần, sảng, bất động và ngắt quãng giấc ngủ (PADIS) ở bệnh nhân người lớn trong ICU và gói biện pháp ABCDEF (Hình 1), được xuất bản bởi The Society of Critical Care Medicine. (14,15) ARDS nghiêm trọng do SARS-CoV-2 tạo ra trong đại dịch COVID-19 đã thách thức khả năng của chúng tôi trong việc tạo, thích ứng và duy trì các giao thức làm việc, chả hạn như các giao thức được đề xuất trong gói ABCDEF. Ngoài ra, bằng cớ tốt nhất hiện có cho việc quản lý những bệnh nhân này đến từ các quốc gia có thu nhập cao với hệ thống y tế được chuẩn bị tốt hơn, nơi mà các giao thức thường có tỷ lệ hài lòng cao và thường không thiếu nguồn lực y tế.

Hình 1 Các thành phần của gói ABCDEF. ( 14 )

mục tiêu của sự đồng thuận này là đề xuất các chiến lược và công cụ đích để quản lý tối ưu ASD ở nhóm dân số này, có tính đến nguy cơ lây cao tồn tại trong các viên chức y tế, phương pháp điều trị nhân đạo mà chúng tôi phải cung cấp cho bệnh nhân và sự bao gồm của gia đình bệnh nhân nhưng trong bối cảnh thiếu các chiến lược điều trị cụ thể có sẵn trên toàn cầu để chống lại vi rút và thiếu nguồn lực y tế tiềm ẩn có thể xảy ra khi hệ thống y tế bão hòa. (16)

PHƯƠNG PHÁP

Tài liệu này được tạo ra bởi sự đồng thuận của các nhóm danh nghĩa. Tài liệu thu được dựa trên đánh giá không hệ thống về bằng chứng khoa học, được bổ sung vào đánh giá và kinh nghiệm lâm sàng của nhóm chuyên gia tham dự và các nhóm khác trên toàn thế giới.

Các chừng tài liệu do các tác giả định kế được thực hành trong Cơ sở dữ liệu Cochrane về các Tổng quan Hệ thống (CDSR), Sổ đăng ký thí nghiệm Có Kiểm soát trọng điểm Cochrane (CENTRAL), Cơ sở Dữ liệu tóm lược Tổng quan về Hiệu ứng (DARE), MEDLINE, và EMBASE. Chiến lược lóng cơ bản được thiết kế cho Medline (PubMed) bao gồm các thuật ngữ sau. Analgesia: (Coronavirus OR Spike glycoprotein, COVID-19 virus OR Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 OR COVID-19 OR Corona Virus OR COVID-19 OR COVID19 OR 2019-nCoV OR SARS-CoV-2 OR SARS-CoV2 OR (Pneumonia AND Wuhan AND 2019) OR (Coronavir* AND 2019)) AND (Critical Care OR Care, Critical OR Intensive Care OR Care, Intensive) AND (Analgesic OR Analgesic* OR Anodynes OR Antinociceptive Agents). Sedación: (Coronavirus OR Spike glycoprotein, COVID-19 virus OR Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 OR COVID-19 OR Corona Virus OR COVID-19 OR COVID19 OR 2019-nCoV OR SARS-CoV-2 OR SARS-CoV2 OR (Pneumonia AND Wuhan AND 2019) OR (Coronavir* AND 2019)) AND (Critical Care OR Care, Critical OR Intensive Care OR Care, Intensive) AND (Hypnotics and Sedatives OR Sedatives and Hypnotic* OR Hypnotic* OR Sedative*). Delirium: (Coronavirus OR Spike glycoprotein, COVID-19 virus OR Severe Acute Respiratory Syndrome Coronavirus 2 OR COVID-19 OR Corona Virus OR COVID-19 OR COVID19 OR 2019-nCoV OR SARS-CoV-2 OR SARS-CoV2 OR (Pneumonia AND Wuhan AND 2019) OR (Coronavir* AND 2019)) AND (Critical Care OR Care, Critical OR Intensive Care OR Care, Intensive) AND (Delirium OR Delirium*).

Việc đưa vào các đánh giá có hệ thống các thí điểm lâm sàng có đối chứng ngẫu nhiên và các chỉ dẫn thực hành lâm sàng được ưu tiên. Ban biên tập bao gồm các thầy thuốc hồi sức, dược sĩ và bác sĩ dược động học, những người đã đề cập đến một quy trình quản lý ASD ở người lớn mắc ARDS do COVID-19 gây ra. Chúng tôi sẽ xem xét các tuổi khác nhau mà bệnh nhân nguy nan phải sang trọng, từ cách tiếp cận ban sơ với đường thở, đến cách tiếp cận thở máy trong các tuổi khác nhau và đến quá trình cai nghiện. Đối với mỗi giai đoạn, các nguồn thông tin thư mục được đề cập đã được phân tích và đưa ra các khuyến cáo.

Một nhóm các chuyên gia độc lập đã thành lập Ủy ban Đánh giá. Nhóm này đã phân tách tài liệu và đề xuất các sửa đổi, được đàm luận cho đến khi đạt được đồng thuận cuối cùng.

KẾT QUẢ

Quá trình đặt nội khí quản chuỗi nhanh ở người lớn bị ARDS do COVID-19

Chúng tôi khuyến cáo chỉ đặt nội khí quản (OTI) ở người lớn có COVID-19 và suy hô hấp nhàng nhàng đến nặng, những người có gắng công hô hấp tăng lên với tần số hô hấp 30 lần/phút và PaO 2 /FiO 2 < 200="" với="" fio 2 50%. Một thuật toán được các thành viên của Sociedad Argentina de Terapia Intensiva điều chỉnh để đặt nội khí quản được đề xuất.

Một số trọng điểm y tế trên toàn thế giới đã mỏng rằng phần lớn bệnh nhân mắc COVID-19 ARDS phải đặt nội khí quản trong vòng 24 giờ trước tiên sau khi được đưa vào ICU và trong vòng dưới 8 giờ đối với những bệnh nhân có các nhân tố nguy cơ liên hệ, phải thở máy kéo dài, nghĩa là từ 3 đến 4 tuần, với tỷ lệ tử vong rất cao. (17-19) Do đó, quyết định đặt nội khí quản phải luôn được đưa ra có tính đến những kết quả này và đánh giá khả năng hồi phục tiềm năng của bệnh nhân. Nguy cơ khí dung trong bất kỳ thao tác nào trong đường thở là cao đến rất cao và đề nghị dùng công cụ bảo vệ cá nhân bảo vệ tối đa (khẩu trang loại N95, áo choàng cách ly, găng, kính bảo vệ mắt và khẩu trang) luôn đi kèm với vệ sinh tay đầy đủ.(20,21) Nên dùng các loại thuốc tác dụng nhanh để giảm nhu cầu thông khí bằng bóng qua mặt nạ và hậu quả là nguy cơ tạo ra khí dung dịch tiết của bệnh nhân. Kế hoạch phải luôn bao gồm, và theo thứ tự tiếp theo, giảm đau, an thần và thuốc chẹn thần kinh cơ (NMB). Một giải pháp thay thế là dùng ketamine, có tác dụng giảm đau và an thần; nơi có thể tránh dùng opioid. Hình 2 tóm lược quy trình mà chúng tôi đề xuất cho quy trình này, với một định dạng hữu dụng để dùng làm danh sách thẩm tra ở đầu giường. (22)

Các phương tiện đánh giá và giám sát

Đau

Chúng tôi khuyến cáo nên dùng một cách có hệ thống Thang điểm đau hành vi (BPS, Behavioral Pain Scale) hoặc công cụ quan sát cơn đau do trông nom nghiêm trọng (CPOT, Critical-Care Pain Observation Tool) ở người lớn không giao du được dựa trên tuổi phát triển của COVID-19 ARDS.

Chúng tôi khuyến cáo , bất kể thời đoạn phát triển hoặc độ sâu của thuốc an thần, ở những bệnh nhân này đạt được và duy trì mục tiêu giảm đau <5 trên="" bps="" và="" <3="" cpot.<="p">

Hình 2 Trình tự cho chuỗi đặt nội khí quản thích ứng. (22)

SS - dung dịch muối 0,9%; VL - videolaryngoscopy; DA - đường thở khó; ETCO 2 - carbon dioxide cuối thở ra.

Chiến lược tốt nhất để đạt được kết quả lâm sàng phù hợp ở bệnh nhân trong khi bảo quản thuốc đầu tay là tuân gói ABCDEF.(14) Đánh giá liên tiếp và có hệ thống về cơn đau, kích động và sảng ở người lớn mắc COVID-19 ARDS là biện pháp hiệu quả, an toàn, nhanh chóng và rẻ tiền nhất để tùng tiệm thuốc. Đó là lý do vì sao chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của nó một cách rõ ràng trong tài liệu này bằng tiếng nói của chúng tôi tại giường bệnh nhân.

Dựa trên khả năng giao tế của bệnh nhân, các thang điểm báo cáo cơn đau, chẳng hạn như thang đánh giá số (NRS, numerical rating scale), có thể được sử dụng ở những bệnh nhân có khả năng giao du hoặc thang quan sát dựa trên hành vi, chẳng hạn như BPS và CPOT, có thể được sử dụng khi bệnh nhân không thể giao dịch.(14,23) Tuy nhiên, chẳng thể vận dụng cho bệnh nhân được an thần sâu, được định nghĩa theo thang điểm khích động-an thần Richmond (RASS, Richmond agitation-sedation scale) là -3 đến -5, hoặc với NMBs; Hạn chế dùng chúng ở người lớn mắc ARDS COVID-19 vừa/nặng.(15) ngoại giả, trong những trường hợp này, Chúng tôi khuyến cáo nên bắt đầu và luôn duy trì giảm đau ngừa.

phương tiện BPS đánh giá 3 thang điểm, nghĩa là diễn tả trên khuôn mặt, cử động chi trên và tuân thủ thở máy, và có thể được dùng cho những bệnh nhân đang trong tình trạng an thần sâu chẳng thể tự biểu đạt (Hình 3). (24) Mỗi thang điểm phụ được cho điểm từ 1 đến 4, cho tổng điểm có thể từ 3 đến 12.

Hình 3 Thang đo chừng độ đau về hành vi. ( 24 )

Mặt khác, CPOT dựa trên điểm số của 4 thành phần: Nét mặt; Vận động cơ thể; tuân thủ máy thở (hoặc phát âm ở bệnh nhân rút nội khí quản); và sự căng cơ.(25) Mỗi thành phần được cho điểm từ 0 đến 2, với tổng điểm có thể từ 0 đến 8 (Hình 4). Ưu điểm của nó là nó cho điểm cường độ của các phản ứng hành vi của bệnh nhân chứ không phải là cường độ của chính cơn đau; nó cũng cho phép đánh giá những bệnh nhân chẳng thể tự vắng.

Trong trường hợp bệnh nhân giao tiếp được, cơn đau có thể được đánh giá bằng cách trả lời một câu hỏi đơn giản (Bạn có đau không? Có/Không) hoặc bằng cách đánh giá cường độ đau bằng thang điểm từ 0 (không đau) đến 10 (mức đau tối đa có thể tưởng tượng được). Cả NRS và nhận thức chủ quan đều có thể được dùng như nhau. (26)

kích động hoặc mức độ tỉnh ngủ

Chúng tôi khuyến cáo dùng RASS có hệ thống ở người lớn theo các đích theo tuổi phát triển của COVID-19 ARDS:

thời đoạn sớm hoặc ARDS vừa/nặng (an thần sâu): Mức an thần RASS mục tiêu -4/-5. Với sự sẵn có của điện não đồ đã xử lý (pEEG), chúng tôi luôn khuyến cáo sử dụng chúng trong thời đoạn này với đích thang đo chỉ số kép (BIS ©) từ 40 đến 60;

thời đoạn trung gian hoặc ARDS nhẹ (an thần nhẹ): Mức an thần RASS mục tiêu 0 đến -3. Ở những chừng độ an thần này, việc dùng pEEG có thể không cần thiết; nếu nó được dùng, chúng tôi đề xuất mục tiêu BIS © từ 60 đến 80; và

giai đoạn tiến triển hoặc cai máy (an thần nhẹ hoặc không dùng thuốc an thần): đích an thần RASS cấp độ 1 đến -1.

Hình 4 công cụ quan sát cơn đau trong săn sóc tích cực. ( 25 )

Một đánh giá hệ thống của Cochrane với phân tích tổng hợp được ban bố vào năm 2018 cho thấy việc thực hiện các phác đồ an thần ở người lớn và trẻ lọt lòng trong ICU không vượt trội so với các phương pháp coi ngó thường ngày về tỷ lệ tử vong, thời gian thở máy và thời gian nằm viện. (27) (28) mặc dù vậy, việc giám sát luôn và liên tiếp chừng độ tỉnh táo bằng các công cụ đã được chính xác là lý tưởng trong ICU. Tuy nhiên, do nhân viên y tế có nguy cơ lây nhiễm cao và bệnh nhân nhiễm COVID-19 thường phải an thần sâu nên nhiệm vụ này gặp nhiều khó khăn. Chúng tôi đề xuất dùng các công cụ đã được công nhận tùy thuộc vào thời đoạn lâm sàng của bệnh nhân và có tính đến mức độ an thần và yêu cầu của NMB. phê chuẩn RASS (Hình 5), một đánh giá chủ quan có thể được thực hành với 10 giá trị có thể, với giá trị dương ứng với các chừng độ khích động khác nhau và giá trị âm tương ứng với an thần. (29,30)

Đánh giá khách quan duyệt máy đo độ sâu gây mê dựa trên điện não đồ dựa trên việc đo hoạt động điện não ở 2 hoặc 4 kênh. Theo tính khả dụng hạn chế của nó, việc sử dụng nó chỉ được đề xuất cho những bệnh nhân đang dùng thuốc an thần sâu (RASS -4 /-5) khi chẳng thể đánh giá lâm sàng. Để dùng, các khuyến cáo sau được cung cấp: đảm bảo rằng các điện cực được đặt đúng cách, để ít ra 3-5 phút để đạt được tín hiệu ổn định, lớp sự hiện diện của các tín hiệu nhiễu và đánh giá chất lượng tín hiệu, hoạt động của điện cơ đồ, chừng độ an thần (mục tiêu phải từ 40 đến 60 trong màn hình BIS © và CoNoxTM, ở giá trị thấp hơn, chừng độ an thần sẽ sâu hơn), tỷ lệ ức chế (càng gần 0 càng tốt) và sóng điện não đồ để công nhận rằng các trị số thích hợp với từng giá trị riêng biệt. Chúng tôi khuyến cáo nên xem lại các khuyến cáo của Hiệp hội Quốc tế về Đào tạo thầy thuốc Gây mê Hồi sức điện não. Ngoài ra, nó cũng nổi trội Thang đo An thần-khích động Riker (SAS, Riker Sedation-Agitation Scale) bao gồm đánh giá chủ quan với 7 cấp độ riêng lẻ, với số điểm 5 - 7 ứng với kích động, 1-3 tương ứng với an thần và 4 tương ứng với bệnh nhân bình tĩnh và hiệp tác. Không giống như RASS, Riker SAS đánh giá phản ứng với các kích thích đau đớn. (32) rốt cục, đánh giá chủ quan cho phép đánh giá phản ứng của bệnh nhân với các kích thích khác nhau: thính giác, xúc giác hoặc đớn đau; tuy nhiên, những đánh giá như vậy không thể được dùng khi bệnh nhân đang chịu tác dụng của NMB.

Thuốc ức chế thần kinh cơ

Chúng tôi khuyến cáo sử dụng đánh giá lâm sàng và bổ sung lý tưởng, dựa trên tình trạng sẵn có, với sự theo dõi khách quan bằng máy kích thích tâm thần ngoại vi nhóm bốn (TOF, train-of-four) ở người lớn mắc ARDS COVID-19 vừa/nặng.

Hình 5 Thang khích động-an thần Richmond. (29)

mặc dầu không có thang điểm để đánh giá mức độ phong tỏa tâm thần cơ, các hướng dẫn thực hiện lâm sàng về việc dùng lâu dài NMBs đề xuất hướng dẫn chuẩn độ các thuốc này dựa trên hiệu quả lâm sàng mong muốn. (33-35) Đối với bệnh nhân ARDS tuân thủ thở máy và trong trường hợp không có ho trước khi hút, chúng tôi khuyến cáo, nếu có, theo dõi khách quan độ sâu của thuốc an thần (EEG). TOF cung cấp 4 xung điện cực đại đến dây thần kinh ngoại vi và đánh giá sự tuyển dụng của sợi cơ. (33,35) Các dây thần kinh thường được sử dụng là nhánh kim ô của dây thần kinh mặt, quan sát sự co giật ở cơ hoặc dây thần kinh mi hoặc dây thần kinh trụ và quan sát phản ứng ở cơ dang của ngón tay cái. Điểm số có thể có trong khoảng từ 0 đến 4, với giá trị từ 0 đến 2 cho thấy một biện pháp phong tỏa thần kinh thích hợp. (33) phương tiện này phải luôn được bổ sung với đánh giá lâm sàng. rút cuộc, nếu bệnh nhân đã được dùng NMB, chẳng thể thực hiện các đánh giá theo thang điểm hành vi và chủ quan về an thần và giảm đau.

Sảng (Delirium)

Chúng tôi khuyến cáo nên dùng Phương pháp Đánh giá Sảng cho Đơn vị trông nom Đặc biệt (CAM-ICU, Confusion Assessment Method for the Intensive Care Unit) để đánh giá sự hiện diện của sảng ở người lớn dựa trên thời đoạn phát triển của COVID-19 ARDS.

CAM-ICU đánh giá 4 triệu chứng cơ bản của sảng, được định tức thị “rối loạn ý thức được đặc trưng bởi sự khởi phát cấp tính và quá trình mất để ý nghiêng ngả” kèm theo suy nghĩ vô tổ chức (Hình 6). (3638)

ngoại giả, bảng kiểm sàng lọc sảng trong trông nom đặc biệt (ICDSC), bao gồm 8 mục dựa trên định nghĩa về sảng trong Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần IV (DSM-IV) của Hiệp hội tâm thần Hoa Kỳ, (36,39) có thể được dùng. Nó tính đến nhiều thể hiện hơn và cho phép mô tả tốt hơn các đặc điểm của sảng cận lâm sàng, mặc dù một số điểm được đánh giá không có định nghĩa hoạt động rõ ràng. Mỗi mục nhận được điểm 1 nếu bệnh nhân đáp ứng rõ ràng các tiêu chí được xác định trong chỉ dẫn tính điểm, trong khi điểm 0 được cho nếu không có mô tả hoặc nếu mục đó chẳng thể cho điểm. Sảng được chẩn đoán dựa trên tổng điểm lớn hơn 4 và đánh giá lâm sàng. (36,39)

COVID-19 trong bối cảnh khủng hoảng

Tổng quát

Chúng tôi khuyến cáo nên sử dụng thuốc qua đường truyền liên tiếp, thay vì truyền đứt quãng, để giảm số người vào phòng và nguy cơ xúc tiếp truyền nhiễm cho viên chức điều trị ARDS ở người lớn với COVID-19.

Chúng tôi khuyến cáo nên phát triển và ứng dụng các chiến lược để tiện tặn các loại thuốc được lựa chọn khi có thể.

Chúng tôi khuyến cáo nên coi xét và cân nhắc với Dịch vụ Dược phẩm về các tác dụng lâm sàng tiềm ẩn của các tương tác dược lý có thể xảy ra giữa các loại thuốc giảm đau-an thần và sảng và các loại thuốc thí điểm hiện được khuyến cáo là tương trợ điều trị cho bệnh nhân COVID-19.

Bước trước hết trước khi bắt đầu truyền thuốc để cắt cơn là đánh giá rủi ro của chính bệnh nhân và các nguyên tố nguy cơ bên ngoài có thể làm đổi thay dược động học và dược lực học của thuốc. Người lớn tuổi có khuynh hướng ít mô cơ hơn và rối loạn chức năng cơ quan nhiều hơn so với người trẻ tuổi, có khả năng dẫn đến giảm chuyển hóa và bài xuất thuốc với nguy cơ tích lũy thuốc.(40,41) Tiền sử lạm dụng thuốc phi pháp, opioid, thuốc chống loạn thần, benzodiazepine hoặc rượu làm giảm ái lực của thuốc với các thụ thể của chúng, do đó làm giảm hiệu quả ở liều thông thường.

Hình 6 Phương pháp đánh giá sảng trong khoa coi sóc đặc biệt. (38)

Ở những bệnh nhân có chỉ số khối cơ thể cao, các thuốc ưa mỡ qua đường truyền liên tiếp, chả hạn như propofol, sẽ dẫn đến nguy cơ điển tích và kéo dài cả tác dụng mong muốn và không mong muốn. ngoại giả còn có các nhân tố đặc trưng cho thực hiện lâm sàng có thể dẫn đến những đổi thay trong việc chọn lựa thuốc và điều chỉnh liều lượng; các nguyên tố đó bao gồm tương tác giữa các loại thuốc được dùng, sự tuân thủ của bệnh nhân với thở máy, có thể dẫn đến tình trạng khích động mạnh và hậu quả là gây ngủ sâu, phụ thuộc vào thuốc vận mạch do hạ áp huyết do thuốc giảm đau an thần, v.v. (15,28,42) Ngoài việc cách ly nghiêm nhặt, nguy cơ lây nhiễm do xúc tiếp với dịch tiết và khí dung cần có cách tiếp cận tích cực với thuốc an thần và kiểm soát cơn đau để ngăn ngừa khích động đột ngột không kiểm soát và/hoặc tự rút nội khí quản. Một đánh giá vắng rằng tỷ lệ rút nội khí quản ngoài kế hoạch được ít trong các thí nghiệm an thần khác nhau lên đến 12%, cao chẳng thể ưng ý được trong bối cảnh này. Một góc cạnh cần ưu tiên trong việc quản lý người lớn mắc COVID-19 ARDS là việc dùng các loại thuốc được dùng qua đường truyền liên tục thay vì đứt quãng (được đề xuất cho các loại thuốc như morphin, lorazepam, diazepam, v.v.) vì làm như vậy làm giảm số lần vào phòng và do đó làm tăng nguy cơ tiếp xúc với bệnh lây của nhân viên y tế. Một hạn chế đối với việc chuẩn bị dịch truyền bị mất là chứng cứ can hệ đến loại chất pha loãng, độ pha loãng tối đa, loại nguyên liệu đóng gói và điều kiện môi trường. Những điều kiện này làm đổi thay tính ổn định hóa học và vi sinh của các dung dịch pha loãng và hạn chế khả năng tạo dịch truyền lâu dài, do đó làm tăng đổi thay dịch truyền và tiếp xúc với bệnh nhân. tất tật các góc cạnh này đã được tính đến trong các khuyến cáo về việc pha loãng và dùng thuốc của Sociedad Argentina de Terapia Intensiva (SATI) cho Bộ Y tế nhà nước.

Do có thể thiếu các loại thuốc được chọn lựa, thường có giá thành cao và phải nhập khẩu, nên trong thời kỳ đại dịch, cần phải ghi nhớ và áp dụng các chiến lược hà tiện thuốc, luôn giữ gói biện pháp ABCDEF làm tài liệu tham khảo và tránh thu thập thuốc trong phòng không cấp thiết, để Dịch vụ nhà thuốc có thể quản lý các nguồn lực dựa trên hồ sơ tiêu thụ theo thời gian thực. (14,43) Một góc cạnh quan trọng khác là hậu quả lâm sàng có thể xảy ra của sự tương tác giữa thuốc được dùng để giảm đau và sảng và các loại thuốc thí nghiệm hiện được khuyến cáo là điều trị tương trợ cho COVID-19. (44)

Giảm đau

Chúng tôi khuyến cáo nên duy trì chiến lược giảm đau trước tiên, xoành xoạch đánh giá sự hiện diện của cơn đau và cách xử trí, trước khi dùng hoặc tăng lượng thuốc an thần ở người lớn với COVID-19 ARDS.

Chúng tôi khuyến cáo sử dụng opioid để kiểm soát cơn đau ở người lớn với COVID-19 ARDS, bất kể tiến triển của bệnh. Bất cứ khi nào có thể, Chúntôi khuyến cáo nên đánh giá việc thực hiện các chiến lược tùng tiệm opioid đã chọn.

Dòng đầu tiên: Fentanyl

Dòng thứ hai: Morphine

Thay thế: Remifentanil (ưu tiên trong giai đoạn hồi phục)

Một cột trụ của phương pháp này là trước hết phải duy trì chiến lược giảm đau, luôn đánh giá sự hiện diện của cơn đau và cách xử trí trước khi sử dụng hoặc gia tăng thuốc an thần. (15) Một khía cạnh lâm sàng quan trọng cần nhấn mạnh can dự đến fentanyl và morphin là tương tác dược lý đã được ghi nhận đầy đủ của chúng với các thuốc benzodiazepin (midazolam và lorazepam), dexmedetomidine và propofol trong thời kì ở gan. chuyển hóa, có khả năng gây suy hô hấp, hạ áp huyết và an thần sâu (Bảng 1). Ngoài ra còn có chứng cớ liên tưởng về mặt lâm sàng về tương tác giữa Remfentanil và benzodiazepine, dexmedetomidine và propofol có thể dẫn đến các đợt giảm thông khí, tắc nghẽn đường thở, tụt độ bão hòa hoặc ngưng thở. điều chỉnh đến liều hiệu quả tối thiểu của thuốc an thần và opioid duyệt y việc đánh giá liên tiếp các mục tiêu được cá nhân hóa đề xuất cho việc giảm đau của từng bệnh nhân.

Bảng 1 Liều lượng, các tác dụng ngoại ý và tương tác của các loại thuốc giảm đau được đề xuất

Thuốc

Pha loãng

Nồng độ ổn định/tương xứng

Chất pha loãng

Liều ban đầu và truyền duy trì

Điều chỉnh liều lượng

Các biện pháp dự phòng / tương tác với quản lý COVID-19 / các tác dụng phụ nghiêm trọng

Ống Fentanyl 250mcg/5mL

CS: tính bằng SS, tối đa 20mcg/mL (bằng PVC hoặcPP)

Trong DX5%, 5mcg/mL(trong PVC hoặc PP)

trong sáng (trong hộp nhựaPVC hoặc PP)

Ví dụ: 10 ống (2500mcg) + 100mL SS (thể tích rốt cục 150mL)

Liều ban đầu: 1mcg/kg

Duy trì: CI 0,7 - 2,5mcg/kg/giờ

Không quá 10mcg/kg/giờ

LF nặng: sử dụng liều thay thế hoặc liều thấp hơn có hiệuquả

Các tác dụng phụ: hạ huyết áp - phóng thích histamine - suy hô hấp

Tương tác: LPV/r: tương tác tiềm ẩn, nguy cơ tích lũy. dùng liều hiệu quả tối thiểu

Remifentanil lọ 5mg

Hoàn nguyên lọ bằng 5mL DW

CS: tính bằng SS/DX5%, 5 - 20mcg/mL

Giới hạn thể tích tối đa: 400mcg/mL

cẩn trọng! Trong RL, nó chỉ ổn định trong 4 giờ tỉ dụ: 2 lọ + 100mL SS(thể tích chung cuộc 110mL)

Liều ban đầu: không vận dụng

Duy trì: CI 0,5 -15mcg/kg/giờ

RF hoặc LF: không điều chỉnh

Tác dụng ngoại ý: tăng nồng độ sau khi ngưng dùng.

Tụt huyết áp, suy hô hấp

Tương tác: không có

Morphine ống

10mg/1mL

CS: tính bằng SS, 0,14 - 1,5mg/mL

Tối đa 2,5mg/mL

Trong DX5%, 0,1 - 1mg/mL

thí dụ: 10 ống (100mg) + 100mL SS (thể tích rốt cục 110mL)

Liều ban sơ:

0,05 - 0,1mg/kg Duy trì: CI 0,07 đến 0,5mg/kg/giờ

RF: rủi ro tích lũy

Điều chỉnh:

GF 50mL/phút: 0,02 - 0,15mg/kg IV c/4 giờ;

GF 20 - 50mL/phút: 75% liều dùng;

GF: 10 - 20mL/phút: 50% liều

LF: khuyến cáo không nên, nguy cơ mắc bệnh não gan

Các tác dụng phụ: hạ áp huyết - giải phóng histamine Tương tác: LPV/r: tương tác vừa phải, nồng độ morphin có thể giảm, tiềm tàng nguy dịp chứng cai

CS - concentration stable for 24 hours; SS - 0.9% saline solution; DX5% - 5% dextrose; RL - Ringer’s lactate; LF - liver failure; DW - distilled water; RF - renal failure; GF - glomerular filtration; CI - continuous infusion; PRIS – propofol infusion syndrome; HR - heart rate; PP - polypropylene; PE - polyethylene; PVC - polyvinyl chloride; LPV/r - lopinavir/ritonavir; HCQ - hydroxychloroquine; NA - not applicable

Fentanyl là loại thuốc được dùng rộng rãi nhất trong bối cảnh của chúng ta, cũng như ở phần còn lại của thế giới, với đặc điểm dược động học, chống chỉ định và các tác dụng ngoại ý đã biết.(46) Cần Thận trọng đặc biệt khi dùng truyền liên tục và kéo

dài do tích lũy chủ yếu ở bệnh nhân suy gan nặng; Cơn đau nên được đánh giá liền tù tù và điều chỉnh tốc độ truyền định kỳ để đạt được liều hiệu quả thấp nhất ở những bệnh nhân này. (15,45) Morphine thường được sử dụng ở mức độ thấp hơn fentanyl ở bệnh nhân thở máy do hiệu lực thấp hơn, đặc điểm dược động học kém hơn và nhiều tác dụng ngoại ý hơn; tuy nhiên, nó là một giải pháp thay thế kinh tế và nức danh khi fentanyl không hiệu quả hoặc khi thiếu hụt. (43) Một trong những chất chuyển hóa có hoạt tính của nó, morphin 6glucuronid, điển tích ở bệnh nhân suy thận và gan; do đó phải điều chỉnh liều hoặc đình chỉ truyền định kỳ ở những quần thể này. ngoại giả, việc sử dụng nó thường hệ trọng đến các đợt hạ áp huyết và giải phóng histamine.(42,45,46) Trong thời đoạn trung gian hoặc ARDS nhẹ, việc dùng bolus morphine đứt quãng có thể là một tuyển lựa.

Không có nhiều chọn lọc thay thế khác trong bối cảnh của chúng tôi, Remfentanil có tác dụng phát khởi nhanh, không tích lũy đến mức cao và không cần điều chỉnh liều trong trường hợp suy thận hoặc gan; tuy nhiên, uổng cao và tính sẵn có dao động trong ICU của chúng tôi, quá trình nhanh chóng qua cơ thể do dược động học và các tác dụng phụ hệ trọng, chả hạn như hạ áp huyết, suy hô hấp và tăng nồng độ do dùng thuốc bị đứt quãng, làm cho nó trở nên một chiến lược kém quyến rũ hơn đối với bệnh nhân COVID -19 ARDS.(45,47) vì thế, không nên sử dụng Remfentanil như một tác nhân duy nhất hoặc ở liều cao.(45,48) Khi có thể, việc dùng nó nên được dành cho thời đoạn bình phục, khi khuyến cáo sử dụng thuốc an thần nhẹ hơn hoặc trong thời gian ngắn.

Do có thể có sự thiếu hụt các loại thuốc được chọn lọc trong đại dịch, một chiến lược mà chúng ta nên luôn đánh giá và ráng thực hiện trong thời gian an thần nhẹ hoặc hồi phục, cùng với gói ABCDEF, là sự kết hợp của các thuốc nonopioid để giảm liều opioid được lựa chọn. Sự phối hợp của các loại thuốc giảm đau với các cơ chế hoạt động khác nhau, chẳng hạn như trong giảm đau đa phương thức, rất quan yếu để tạo ra tác dụng hiệp đồng và để giảm các tác dụng phụ thường gặp liên can đến opioid. và ung thư; cho đến nay, không có chứng cứ chất lượng tốt về việc sử dụng nó thường quy trong các ICU. (15,42,49) Bảng 2 cho thấy các thuốc nonopioid được dùng phổ biến nhất trong ICU trong trường hợp chiến lược này được thực hành.

Sự phối hợp giữa opioid tiêm tĩnh mạch và uống có thể cho thấy nhu cầu thuốc tiêm tĩnh mạch thấp hơn và thời kì cai máy ngắn hơn cho những bệnh nhân bị bệnh nặng, mặc dù cần có chứng cứ tốt hơn để có thể đưa ra khuyến cáo thuận tiện. (50) Rào cản chính đối với việc dùng opioid đường uống trong ICU là sinh khả dụng bị đổi thay do giảm tiếp thụ theo đường này ở những bệnh nhân bị bệnh nặng.

Thuốc an thần

Chúng tôi khuyến cáo nên sử dụng lịch trình an thần năng động và lần lượt theo nhu cầu của người lớn với COVID-19 ARDS để tránh quá tải.

Chúng tôi khuyến cáo nên “nghỉ” hoặc ngắt quãng thuốc an thần hàng ngày ở người lớn với COVID19 ARDS chỉ khi điều kiện lâm sàng cụ thể của bệnh nhân cho phép và hàng ngũ y tế có thể bảo đảm được sự bảo vệ thích hợp.

Chúng tôi khuyến cáo nên dùng một lộ trình điều trị dược lý để an thần dựa trên mục tiêu và sự tiến triển của bệnh ở người lớn với COVID-19 ARDS:

tuổi sớm hoặc ARDS làng nhàng/nặng (an thần sâu)

Dòng trước hết: Midazolam

Dòng thứ hai: Propofol

Thay thế: Benzodiazepines (lorazepam và diazepam) và ketamine.

Bảng 2 Liều lượng, các tác dụng ngoại ý và tương tác thuốc để giảm đau đa phương thức

Thuốc

Pha loãng

Nồng độ ổn định/Tương thích

Chất pha loãng

Liều ban sơ và truyền duy trì

Điều chỉnh liều lượng

Các biện pháp ngừa/tương tác với quản lý COVID-19/các tác dụng phụ nghiêm trọng

Lọ paracetamol 10mg/mL

tương hợp với SS và DX5%

CS: 1mg/mL (dùng ngay) Có thể dùng trực tiếp mà không cần pha loãng trước

Duy trì: 650mg mỗi 4 giờ - 1000mg mỗi

6 giờ Liều tối đa ≤ 4000mg/ngày

LF: chống chỉ định ở những bệnh nhân bị LF nặng

RF: CrCl ≤ 30mL/phút

Cân nhắc việc tăng khoảng cách giữa các liều và giảm liều

Các tác dụng phụ: buồn nôn, nôn, nhức đầu, mất ngủ

Tương tác: không có

Ketamine lọ 500mg/10mL

CS: tính bằng SS, 1mg/mL (pha loãng 500mg trong 500mL)

Liều ban đầu: 0,1 - 0,5mg/kg

Khuyến nghị: 0,15mg/kg

Duy trì: CI 0,1 - 0,4mg/kg/giờ

Không vượt quá 2mg/kg/giờ

RF hoặc LF: không cần điều chỉnh

Các sự kiện có hại: các triệu chứng tâm thần (ảo giác); suy hô hấp; huyết áp thấp

Tương tác: LPV/r: tương tác tiềm ẩn, nguy cơ tích lũy. dùng liều hiệu quả tối thiểu

Dexmedetomidine lọ 200mcg/2mL

CS: tính bằng SS, 4mcg/mL

tỉ dụ: 2 lọ trong 100mL SS (thể tích rút cục là 104mL)

Duy trì: CI 0,2 - 0,7 mcg/kg/giờ

Khuyến nghị sử dụng trong 24 giờ

LF: dùng 0,2 - 0,7 mcg/kg/giờ

Các tác dụng phụ: nhịp tim chậm và hạ huyết áp Tương tác vừa phải với

LPV/r (giám sát) và với HCQ

Theo dõi khoảng QT

Ketorolac ống 30mg/mL

CS: tính bằng SS, 0,3 - 0,6mg/mL (trong hộp nhựa PVC)

Trong RL và DX5%, 0,6mg/mL (trong hộp nhựa PVC).

Liều khởi đầu: 30mg, sau đó 1530mg mỗi 6 giờ trong 5 ngày

Liều tối đa: 120mg/ngày trong 5 ngày

Truyền tĩnh mạch trực tiếp, tiêm trong vòng không dưới 15 giây

RF: 15mg mỗi 6 giờ

Liều tối đa: 60mg/ngày

Tác dụng ngoại ý: tăng áp huyết, phù nề, phản ứng có hại trên da

Tương tác: Không có

Diclofenac ống 75mg/3mL

CI: pha 100mL - 500mL SS hoặc DX5% với dung dịch natri bicacbonat tiêm (0,5mL dung dịch 8,4% hoặc 1mL dung dịch 4,2%)

Truyền đứt quãng: pha 1 ống với 50mL SS

Duy trì: 75 mg mỗi 12 giờ

Liều khuyến cáo tối đa: 150mg/ngày

LF và RF nghiêm trọng: việc dùng nó không được khuyến khích

Tác dụng phụ: suy thận, phù, ngừng tim, phản ứng da

Tương tác: không xảy ra với dexamethasone và hydrocortisone

Tramadol ống 50mg/mL

CS: tính bằng SS và DX5%, 0,4 - 0,5mg/mL (PVC)

Tính bằng RL, 0,4mg/mL (PVC)

Duy trì: 50 - 100mg sau mỗi 6 giờ

RF: CrCl <30ml phút;="" tăng="" khoảng="" cách="" dùng="" thuốc="" lên="" 12="" giờ="" một="" lần<="p">

Liều tối đa: 200mg/ngày

CrCl <10ml phút:="" 50="" mg="" sau="" mỗi="" 12giờ<="p">

LF nặng: 50mg mỗi 12 giờ

Biến cố có hại: phản ứng da và đường tiêu hóa

Tương tác: tiềm năng với LPV/r và với HCQ

Theo dõi khoảng QT

Carbamazepine viên 200mg

CS: tính bằng SS và DX5%, 0,4 - 0,5mg/mL (PVC)

Tính bằng RL, 0,4mg/mL (PVC)

Liều ban sơ: 50 - 100mg

Duy trì: 100 - 200mg sau mỗi 4 - 6 giờ

Liều tối đa: 1200mg/ngày

LF và RF nghiêm trọng: việc sử dụng nó không được khuyến khích

Biến cố có hại: phản ứng da và đường tiêu hóa, hạ huyết áp, blốc nhĩ thất

Tương tác: không dùng với LPV/r và HCQ

Tương tác có thể xảy ra với dexamethasone và hydrocortisone, ivermectin và ít khả năng hơn với remdesivir

Gabapentin viên 100, 300, 600mg

NA

Liều ban sơ: 100 mg cứ 8 giờ một lần

Duy trì: 900 - 3600mg 3 lần mỗingày

RF: CrCl 30 - 59mL/phút: 400 - 1400mg/ngày 2 lần mỗi ngày

CrCl 15 - 29mL/phút 200 - 700mg/ngày x 1 lần/ngày

CrCl 15mL/phút: 100 - 300mg/ngày

CrCl <15ml phút="" điều="" chỉnh="" liều="" tương="" ứng="" với="" đối="" crcl="" là="" 15ml="phút

Các tác dụng phụ: phản ứng da và đường tiêu hóa, chóng mặt, buồn ngủ

Tương tác: không có

Viên Pregabalin 25,50,75,150,300 mg

NA

Liều khởi đầu: 75 - 150mg

Duy trì: 150 - 600mg/ngày x 2 lần/ngày

Liều thường ngày: 300 - 600mg/ngày

RF: CrCl 30 - 60mL/phút: 75 đến 300mg/ngày chia làm 2 hoặc 3 lần

CrCl 15 - 30mL/phút 25 150mg/ngày một lần hoặc hai lần mỗi ngày

CrCl dưới 5mL/phút 2550mg một lần mỗi ngày

Tác dụng ngoại ý: có thể gây an thần quá mức và hạ huyết áp.

Tương tác: Không có

thời đoạn trung gian hoặc ARDS nhẹ (an thần nhẹ) và giai đoạn tiến triển hoặc cai máy (an thần nhẹ hoặc không dùng thuốc an thần)

Dòng trước tiên: Propofol

Dòng thứ hai: Dexmedetomidine

Thay thế: Benzodiazepines (midazolam, lorazepam và diazepam) và clonidine

Những bệnh nhân mắc COVID-19 nặng vào ICU hầu hết đều có miêu tả giảm oxy máu nặng và/hoặc ARDS cần thở máy, an thần sâu và đôi khi NMBs.(11,51-53) Thách thức là duy trì an thần sâu nghiêm nhặt khi cấp thiết và, song song xác định thời điểm sớm nhất có thể bắt đầu dùng thuốc an thần nhẹ. Điều quan yếu là phải nhận ra lợi ích của việc tránh dùng thuốc an thần sâu và kéo dài, cùng với ích của việc an thần nhẹ với sự tham gia hăng hái của gia đình, dù rằng không phải lúc nào cũng có thể triển khai tham dự trong thời gian đại dịch do nguy cơ phơi nhiễm và truyền nhiễm. (36,54,55) Ví dụ, và mặc dù lợi. của nó đã được chứng minh, việc áp dụng thời kì nghỉ thuốc an thần hàng ngày là khó khăn và tiềm ẩn nhiều rủi ro ở những bệnh nhân này. Do đó, phải đặc biệt lưu ý và luôn ưu tiên bảo vệ hàng ngũ y tế, ngay cả khi điều đó gây bất lợi cho chiến lược này.(56) Trước khi thực hiện thể nghiệm nghỉ an thần và do đó đánh giá tình trạng an thần nhẹ, cần đáp ứng ắt các tiêu chí sau: PaO 2 /FiO 2 175mmHg, áp lực dương cuối thở ra (PEEP) < 10="" cm="" h 2 O, FiO 2 < 50%,="" nằm="" ngửa="" trong="" ít="" nhất="" 4="" giờ,="" không="" co="" giật,="" có="" nmbs="" 2="" giờ="" và="" oxy="" hóa="" màng="" ngoài="" cơ="" thể="" (ecmo).="" (22)="" do="" thiếu="" một="" số="" loại="" thuốc="" an="" thần="" ngày="" trung="" bình="" mà="" bệnh="" nhân="" bị="" covid-19="" nặng="" được="" thở="" máy="" là="" từ="" 7="" đến="" 12="" ngày,="" chúng="" tôi="" khuyến="" cáo="" nên="" sử="" dụng="" lịch="" trình="" động="" tuần="" tự="" điều="" chỉnh="" theo="" nhu="" cầu="" của="" từng="" để="" tránh="" quá="" tải="" thần.="" (43,51)<="p">

giai đoạn đầu

Các chỉ dẫn hiện hành về ASD trong điều kiện thường nhật ưu tiên sử dụng các thuốc an thần có thời kì bán hủy ngắn và dược động học hai phân khu và các thuốc nonbenzodiazepin.(15) Tuy nhiên, trong trường hợp này và cho các trường hợp trên, chúng tôi có thể ưu tiên các loại thuốc có thời gian bán hủy dài hơn (midazolam, lorazepam, v.v.), luôn luôn điều chỉnh đến liều tối thiểu có hiệu quả, làm giảm hoài và được cung cấp rộng rãi trong các ICU trong thời gian đầu thở máy (Bảng 3). Việc truyền liên tiếp ketamine phối hợp, trong các chiến lược an thần sâu, có thể giúp những bệnh nhân khó điều trị tiếp cận với phương pháp điều trị bình thường và giảm nhu cầu dùng thuốc để giảm đau. (57,58) Một đánh giá có hệ thống gần đây với phân tách tổng hợp đã bẩm rằng việc sử dụng ketamine như một chất bổ trợ trong lịch dùng thuốc an thần-giảm đau cho bệnh nhân thở máy sẽ làm giảm nhu cầu về propofol; tuy nhiên, có sự không vững chắc về kết quả lâm sàng, khả năng dung nạp và hồ sơ an toàn. (59)

Diazepam có thời gian bán hủy dài và hầu như chỉ được chuyển hóa ở gan, tạo ra các chất chuyển hóa có hoạt tính có nguy cơ tích tụ rất cao ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng thận. Dễ gây sảng và có tá dược (propylene glycol) tích ở bệnh nhân suy thận và có thể rất độc, dẫn đến toan chuyển hóa và tổn thương thận. Không có bằng cớ chất lượng tốt về việc truyền liên tục cho những bệnh nhân nguy kịch; do đó, nó chỉ nên được sử dụng trong thời kì thiếu các loại thuốc bình thường, và nên tránh truyền quá lâu. do đó, liều lượng và giám sát của chúng cần được đánh giá nghiêm nhặt.

Bảng 3 Liều lượng, các tác dụng ngoại ý và tương tác của các loại thuốc an thần được đề xuất

Thuốc

Pha loãng Nồng độ ổn định/tương xứng Chất pha loãng

Liều ban đầu và truyền duy trì

Điều chỉnh liều lượng

Các biện pháp dự phòng/tương tác với quản lý COVID-19/các tác dụng phụ nghiêm trọng

Midazolam ống 5mg/mL

CS: 0,035 -1mg/mL trong thùng PCV và lên đến 2mg/mL trong thùng PP cho SS và DX5%

Không tương xứng với RL; có thể được quản lý Tinh khiết thí dụ: 8 ống (120mg) + 100 mL SS (thể tích chung cuộc 124mL)

Liều ban sơ: 0,01 - 0,05 mg/kg

Duy trì: CI 0,02 -0,1 mg/kg/giờ

Không vượt quá 0,2 mg/kg/giờ

RF: bắt đầu với liều hiệu quả thấp nhất

CrCl <10ml phút,="" giảm="" 50%="" liều<="p">

LF: Child-pug B-C không được khuyến cáo để truyền liên tiếp

Biến cố có hại: suy hô hấp-hạ huyết áp.

Tương tác: LPV/r: Tương tác tiềm năng

Giám sát chém; dùng liều hiệu quả tối thiểu

Lorazepam ống 4mg/mL

Độ ổn định của dung dịch khó Tránh ánh sáng

CS: tính bằng DX5%, 1 - 2mg/mL (bằng polyolefin hoặc PVC)

Tính bằng SS, 1mg/mL trong PP; 0,04mg/mL trong PVC; 0,1 và 0,038mg/mL trong PE

Trong RL, 0,1mg/mL trong PE

Ví dụ: 10 ống (40mg) + 30mL DX5% (khối lượng cuối cùng 40mL)

Liều ban sơ: 0,02 - 0,04 mg/kg '(≤ 2mg)

Duy trì: CI 0,01 - 0,1mg/kg/giờ

Tốc độ truyền ≤ 10mg/giờ

RF hoặc LF nặng: sử dụng thay thế Nguy cơ điển tích tá dược

cẩn trọng: nguy cơ tích tụ tá dược độc (propylene glycol) ở người suy thận, hạn chế truyền dịch Tác dụng ngoại ý: suy hô hấp hạ huyết áp Tương tác: không có

Diazepam ống 10mg/2mL

Độ ổn định của dung dịch khó

Tránh ánh sáng

SS, 0,01mg/mL, 0,05 mg/mL, 0,08 mg/mL và 0,2mg/mL;

DX5%, 0,04 mg/mL và 0,2 mg/mL

Các dung dịch pha loãng tương xứng trong PE và hộp thủy tinh

cân xứng với RL trong hộp thủy tinh

CS 0,05mg/mL

Liều ban sơ: 5 - 10mg

Duy trì: 0,03 - 0,1mg/kg cứ 0,5 - 6 giờ một lần CI: 0,05 - 0,2 mg/kg/giờ

RF hoặc LF: không yêu cầu điều chỉnh cụ thể, giám sát chém đẹp do nguy cơ tích trữ tá dược

Biện pháp ngừa: tích tá dược propylene glycol có thể tạo ra độc tính

Giám sát chặt, nguy cơ quá tải.

Biến cố có hại: suy hô hấp Tương tác: Có thể xảy ra với LPV/r

Propofol ống 200mg/20mL (1%)

Propofol lọ 1000mg/50mL (2%)

Đặt ống vào một túi PP hoặc PVC rỗng 6 giờ ổn định

Ví dụ: 4 ống (800mg) trong thùng rỗng (thể tích chung cuộc là 80mL)

sử dụng trực tiếp từ lọ mà không cần chuyển/pha loãng. Sau khi mở, độ ổn định 12 giờ

Liều khởi đầu: 5μg/kg/phút

Chỉ khi không có khả năng hạ huyết áp

Duy trì: CI 0,3 -3 mg/kg/giờ

Không quá 4,5mg/kg/giờ

RF hoặc LF: dùng liều thấp hơn 0,3 - 2,4mg/kg/giờ

ngừa: nguy cơ điển tích khi truyền kéo dài; sử dụng liều hiệu quả tối thiểu.

Các tác dụng ngoại ý: suy hô hấp, hạ huyết áp, tăng triglycerid máu; nguy cơ mắc PRIS tăng khi dùng liều lớn hơn 3 mg/kg/h; giám sát chém đẹp. Tương tác: tiềm năng với

LPV/r và với HCQ

Theo dõi khoảng QT

Dexmedetomidine lọ 200mcg/2 mL

CS: tính bằng SS, 4mcg/mL

tỉ dụ: 2 lọ + 100mL SS (thể tích rốt cục là 104mL)

Liều ban đầu: (không khuyến khích) 0,5 mcg/kg trong 15 phút - theo dõi nhịp tim nghiêm nhặt

Duy trì: CI 0,2 -1,4mcg/kg/giờ

LF: theo dõi, dùng liều thấp hơn 0,2 - 0,7mg/kg/giờ

Các tác dụng phụ: nhịp tim chậm và hạ áp huyết

Tương tác: tiềm năng với LPV/r và với HCQ theo dõi khoảng QT

Clonidine ống 150mcg/mL

Tránh ánh sáng CS: 9mcg/mL tính bằng SS

thí dụ: 6 ống + 100mL SS (khối lượng rốt cục 106mL)

Bolus: 0,5mcg/kg (chỉ ở bệnh nhân huyết động ổn định)

Duy trì: CI 0,5 2mcg/kg/giờ

Lên đến 3mcg/kg/giờ

RF hoặc LF: không điều chỉnh

Tác dụng ngoại ý: hạ huyết áp, nhịp tim chậm, blốc nhĩ thất

Tương tác: không

giai đoạn trung gian và giai đoạn nâng cao

Trong thời đoạn hồi phục, với việc dùng thuốc an thần nhẹ hơn và không cần thuốc NMB và các phiên điều trị nằm sấp, chúng ta có thể ưu tiên các thuốc có dược động học thuận tiện hơn, thời gian bán hủy ngắn hơn và ít tích lũy hơn (propofol và dexmedetomidine). (42,60) Nếu tình hình huyết động cho phép, việc dùng propofol bơ vơ hoặc kết hợp với benzodiazepine (thường là midazolam) nên được xem xét vì cách tiếp cận này đã được chứng minh là dẫn đến thời kì lưu lại ICU ngắn hơn và tỷ lệ sảng thấp hơn so với benzodiazepine đơn thuần. Tuy nhiên, để truyền propofol liên tiếp, cần theo dõi liên tiếp do nguy cơ suy hô hấp, hạ áp huyết, tăng triglycerid máu và sau thời kì dài truyền và dùng liều tối đa, xuất hiện hội chứng truyền propofol (PRIS). (45,61)

Sự phối hợp của dexmedetomidine với các thuốc giảm đau khác đã được chứng minh là làm giảm liều midazolam, propofol và opioid. (62) So với propofol, dexmedetomidine có can dự đến thời gian nằm ICU ngắn hơn và tỷ lệ mê sảng thấp hơn, trong khi ở những bệnh nhân thở máy kéo dài, nó có thể làm giảm số ngày thở máy và giữ cho bệnh nhân ở thể giao tế. (63-65) Một chất thay thế dexmedetomidine là clonidine; tuy nhiên, bằng cớ hỗ trợ việc sử dụng nó trong điều kiện bệnh nhân nguy ngập rất khan hiếm và có chất lượng thấp; do đó, nó chỉ nên được dùng trong những trường hợp thiếu các liệu pháp thông thường. (65) Thuốc tác động alpha-2 (như dexmedetomidine), hoài thấp và tính an toàn hợp ở những bệnh nhân ổn định về huyết động làm cho nó trở nên một tuyển lựa thay thế hấp dẫn khi dexmedetomidine không phải là một tuyển lựa. trái lại, ở những bệnh nhân đang dùng dexmedetomidine, trong giai đoạn cai máy, nên chuyển đổi dần dần để tránh các hiện tượng ngừng thuốc và lo âu trước khi ngừng sử dụng. (66-68)

mặc dù việc dùng ketamine không phổ thông trong ICU của chúng tôi, việc sử dụng nó có thể hữu dụng như một biện pháp thay thế trong an thần nhẹ và do đặc tính giảm đau của nó, như một chiến lược kiệm ước opioid hoặc benzodiazepine khi phối hợp với các tuyển lựa thuốc đó. (69, 70) Việc sử dụng ketamine có liên can đến các biến cố thần kinh thẳng tắp và nghiêm trọng, chẳng hạn như suy hô hấp và hạ huyết áp, làm hạn chế khả năng hồi phục của bệnh nhân ARDS COVID-19. Nó không được khuyến cáo cho những bệnh nhân nghi đau thắt ngực không ổn định, huyết áp cao không kiểm soát được hoặc tăng huyết áp nội sọ. quan yếu là, việc đánh giá độ sâu của thuốc mê bằng BIS làm mất giá trị và mối tương quan đối với bệnh nhân dùng ketamine.

Khi bệnh cảnh hô hấp của bệnh nhân được duy trì trong 48 giờ (PaO 2 /FiO 2 200, FiO 2 <60% và="" peep="" <15="" cm="" h 2 O), không có NMBs và không cần định vị nằm sấp, có thể tiến tới thời gian bán thải ngắn hơn, với các chiến lược tiết kiệm opioid. Trong giai đoạn thứ ba này, đích là đạt được RASS từ 1 đến -1, đặc biệt chú ý đến việc quản lý cơn đau và lo lắng bằng thuốc và không dùng thuốc và theo dõi hàng ngày sự hiện diện của sảng. Nếu dexmedetomidine đã được dùng cho những bệnh nhân đã được an thần trước đó, thì không nên tiến hành dẫn đầu, vì sẽ mất 6 giờ để đạt được hiệu quả mong muốn. Nếu sử dụng dẫn đầu, nên dùng 0,5mcg/kg trong 15 phút với theo dõi nhịp tim, vì có thể xảy ra tăng áp huyết thoáng qua.

Các chất ngăn chặn tâm thần cơ

Chúng tôi khuyến cáo nên dùng các chất ngăn chặn tâm thần cơ, bắt đầu bằng việc truyền không liên tiếp, chỉ trong điều kiện lâm sàng chính xác của bệnh nhân, và theo đích và sự tiến triển của bệnh ở người lớn với COVID-19 ARDS:

giai đoạn sớm hoặc ARDS nhàng nhàng/nặng (an thần sâu)

Dòng trước hết: Atracurium

Dòng thứ hai: Vecuronium hoặc rocuronium

Thay thế: Pancuronium

Bệnh nhân ARDS COVID-19 yêu cầu thở máy kéo dài và an thần sâu, thường liên tưởng đến việc dùng NMBs liên tiếp, dẫn đến nguy cơ di chứng cao trong và sau thời kì điều trị ICU của họ. (71) Việc dùng NMB được khuyến cáo cho những bệnh nhân nặng ARDS, với PaO 2 /FiO 2 <150 mặc="" dù="" có="" chiến="" lược="" thở="" máy="" tối="" ưu="" và="" không="" đạt="" được="" sự="" tuân="" thủ="" đầy="" đủ="" đã="" rass="" -4="-5;" khi="" tăng="" mức="" độ="" an="" thần="" khuyến="" khích.="" (35,72,73)<="p">

Về ích lâm sàng của chiến lược này trong tuổi đầu của ARDS, có chứng cứ mâu thuẫn về sự cải thiện kết quả lâm sàng ở nhóm dân số này, mặc dầu nó có thể giúp hạn chế thương tổn phổi do bệnh nhân tự gây ra (P-SILI) và tổn thương phổi can dự đến không đồng bộ máy thở - bệnh nhân do kích hoạt kép và kích hoạt ngược, và có thể tránh tạo khí dung. (22,74-76) Ở những bệnh nhân quyết định dùng NMBs (thí dụ, ARDS nặng với thông khí nằm sấp), Chúng tôi khuyến cáo nên dùng thuốc chẹn không phân cực với truyền bolus ngắt quãng để tạo điều kiện thông khí bảo vệ phổi và phong độ nằm sấp, chỉ chuyển sang truyền liên tục nếu có mất đồng bộ dai dẳng hoặc tổn thương huyết động nặng, đánh giá lại sau mỗi 24 giờ. (22,77)

Các hướng dẫn thực hành lâm sàng và sự đồng thuận của các bác sĩ chuyên khoa trên toàn thế giới khuyến cáo cisatracurium là chọn lựa hàng đầu cho bệnh nhân ARDS, cũng là loại được nghiên cứu nhiều nhất ở nhóm dân số này. (15,43,76) vì chưng nó không có sẵn ở Argentina, khuyến nghị chọn lựa trước hết của chúng tôi là atracurium. Atracurium, giống như cisatracurium, có cấu trúc benzylisoquinoline và là một NMB tác dụng trung gian được chuyển hóa bởi các esterase huyết tương và thải trừ Hofmann, điều này có lợi cho việc dùng nó ở bệnh nhân suy thận hoặc gan (Bảng 4). (76,78) Tuy nhiên, do đối với tác dụng histaminergic của nó, nó có thể tạo ra sự gia tăng chất bài xuất ở đường hô hấp và, khi dùng kéo dài, sự điển tích của laudanosine, một chất chuyển hóa có khả năng gây độc cho tâm thần. (45,73)

Bảng 4 Liều lượng, các tác dụng ngoại ý và tương tác của các loại thuốc được đề xuất cho bao vây thần kinh cơ

Thuốc

Pha loãng

Nồng độ ổn định/Tương thích

Chất pha loãng

Liều ban đầu và truyền duy trì

Điều chỉnh liều lượng

Các biện pháp đề phòng/tương tác với quản lý COVID-19/các tác dụng phụ nghiêm trọng

Atracurium ống 50mg / 5mL

CS: tính bằng SS / DX5%. 0,2 - 1mg / mL

Tối đa 5mg / mL; không cân xứng với RL

Ví dụ: 10 ống (500mg) + 100mL SS (thể tích chung cuộc 150mL)

Liều ban đầu: 0,4 - 0,5mg / kg

Duy trì: 5 - 20mcg / kg / phút

RF hoặc LF: không cần điều chỉnh

Sự kiện có hại: nguy cơ giải phóng histamine (tối thiểu)

Sốc phản vệ (nếu truyền liên tục trong thời kì dài)

Tương tác: không có

Vecuronium lọ 10mg

Pha lại mỗi lọ bằng 10mL nước cất

cân xứng với SS, DX5%, RL

thí dụ: 5 ống (50mg) + 100mL SS (thể tích chung cuộc 150mL)

Liều ban đầu: 0,08 - 0,1mg / kg

Duy trì: 0,8 - 1,7mcg / kg / phút

RF hoặc RF khẩn cấp cấp tính: sử dụng liều hiệu dụng tối thiểu do nguy cơ tích lũy

Tác dụng ngoại ý: tắc nghẽn

phế vị với liều cao Tương tác: không có

Rocuronium ống 50mg / 5mL

tương xứng với SS, DX5% và RL

CS: SS, RL và DX5%, 0,5 và 2mg / mL

thí dụ: 4 ống (200mg) + 100mL SS (thể tích chung cuộc 120mL)

Liều ban sơ: 0,06 - 1mg / kg

Duy trì: 8 - 12mcg / kg / phút

RF hoặc LF: không cần điều chỉnh, đánh giá đáp ứng liều

Các tác dụng ngoại ý: nhịp tim chậm, tắc nghẽn phế vị với liều cao

Tương tác: tiềm năng với LPV / r hoặc với HCQ, theo dõi khoảng QT

Ống Pancuronium 4mg / 2mL

xứng với SS, DX5%, RL

tỉ dụ: 10 ống (40mg) + 100mL SS (khối lượng rút cục 120mL)

Liều ban sơ: 0,04 - 0,1mg / kg

Duy trì: 1 - 2mcg / kg / phút

RF: dùng liều hiệu quả tối thiểu, do nguy cơ tích lũy

Tránh dùng nó ở những bệnh nhân có RF nặng, CrCl <10mg ml<="p">

Các tác dụng phụ: suy hô hấp, tăng áp huyết, tắc nghẽn phế vị với liều cao

Tương tác: không có

Đối với dòng thứ hai, vecuronium hoặc rocuronium, với tác dụng trung gian, có thể được coi xét và cũng có thể được sử dụng qua đường tiêm truyền liên tục. Những loại thuốc này được chuyển hóa ở gan và có thể dẫn đến suy thận và gan, nhưng ưu điểm của chúng so với pancuronium là có chất giải độc (sugammadex) giúp đảo ngược nhanh chóng quá trình phong tỏa tâm thần cơ. Pancuronium, có tác dụng kéo dài, là một giải pháp thay thế có dược động học không thuận lợi hơn, có thể được coi xét dùng liên tục hoặc đứt quãng. (35)

Thuật toán giảm đau ở người lớn với COVID19 ARDS trong bối cảnh thiếu hụt

Hình 7 cho thấy một thuật toán được đề xuất, theo các khuyến cáo bình thường, với đích duy trì các loại thuốc đã chọn, giảm khích động và/hoặc sảng và tạo điều kiện cho việc cai thở máy với tình trạng sức khỏe thể chất và nhận thức tối đa có thể. Có khả năng là khi đối mặt với đại dịch COVID-19, sẽ cần phải dùng lộ trình đổi thay do thiếu thuốc chọn lọc, thiết bị y tế hoặc nhân viên y tế, có thể dẫn đến thời gian thở máy bảo vệ kéo dài do ARDS nghiêm trọng và các quy trình khôi phục chậm hơn. (22) Tài liệu này sẽ coi xét các lệch lạc có thể có của thuật toán được đề xuất và sẽ diễn đạt các giải pháp thay thế để giải quyết chúng.

Phương pháp điều trị toàn diện cho bệnh nhân sảng trong phòng săn sóc đặc biệt

Chúng tôi khuyến cáo không sử dụng điều trị thuốc bình thường để ngừa hoặc kiểm soát chứng sảng ở người lớn với COVID-19 ARDS.

Chúng tôi khuyến cáo , nếu có thể, ứng dụng các biện pháp không dùng thuốc, chẳng hạn như tạo cảm giác thoải mái sớm bằng cách sử dụng thuốc giảm đau, thuốc an thần tối thiểu và săn sóc con người tối đa (eCASH), để ngăn ngừa và giảm tình trạng sảng ở người lớn với COVID-19 ARDS.

Sảng là kết quả của suy cơ quan cấp tính và được đặc trưng bởi sự khởi đầu cấp tính của sự đổi thay ý thức và chú ý với một diễn biến nao núng. Điều quan yếu là, sự xuất hiện của nó ở những bệnh nhân nhập viện ICU có hệ trọng đến tỷ lệ tử vong cao hơn. do đó, việc đề phòng là rất cấp thiết. Có tính đến các nguyên tố khuynh hướng (ốm yếu, suy giảm nhận thức, v.v.) và các nhân tố kết thúc (có thể được phân thành 3 lĩnh vực: chừng độ nghiêm trọng của bệnh, tiếp xúc với thuốc và các yếu tố môi trường), có khả năng sự gia tăng tỷ lệ sảng này không phải là một sản phẩm của một tình trạng dinh dưỡng não cụ thể của virus mà thay vào đó là gánh nặng lớn của các nhân tố kết tủa (hệ trọng đến an thần, bất động, cô lập, v.v.). (81,83) Khái niệm eCASH do Vincent và cộng sự đề xuất. là một điểm khởi đầu tốt để trao đổi về các biện pháp điều trị không dùng thuốc. Dựa trên khái niệm này, gói ABCDEF có thể được hiểu là "con đường" để đạt được lý tưởng này. (14)

Hình 7 Thuật toán đề xuất để xử lý người lớn mắc hội chứng suy hô hấp cấp COVID-19 trong bối cảnh thiếu thuốc. AMV - thở máy tương trợ; RASS - Thang kích động-an thần Richmond.

hao hao như hướng dẫn thực hành lâm sàng PADIS, chúng tôi không khuyến cáo, do thiếu bằng cớ và lợi ích lâm sàng, thường xuyên dùng haloperidol, thuốc chống loạn thần tiêu biểu hoặc không tiêu biểu hoặc các loại thuốc khác để ngăn ngừa hoặc kiểm soát cơn sảng. (15,84-89) Trong trường hợp quyết định sử dụng chiến lược này, chúng tôi yêu cầu sử dụng nó cho bệnh nhân kích động (RASS 1) và ở liều thấp và ưu tiên các thuốc có thời kì bán hủy ngắn và nguy cơ tích lũy thấp hơn (Bảng 5). Việc sử dụng biện pháp kìm nén vật lý chỉ nên được sử dụng trong những trường hợp ngoại lệ, lưu ý rằng nó không ngăn chặn được các tác dụng phụ, gây chấn thương cho bệnh nhân và làm trầm trọng thêm tình trạng sảng. Trong nghiên cứu MENDS (Tối đa hóa hiệu quả của thuốc an thần mục tiêu và giảm rối loạn chức năng tâm thần), việc dùng dexmedetomidine dẫn đến nhiều ngày không sảng hoặc hôn mê và thời gian an thần nhiều hơn so với việc dùng lorazepam ở bệnh nhân thở máy. (90) Những tác dụng này cũng đã được ít khi so sánh thuốc này với propofol hoặc midazolam. như chúng tôi đã đề cập trước đây, chìa khóa nằm ở việc sử dụng các gói biện pháp có tổ chức (ABCDEF) chứ không phải trong việc dùng một loại thuốc độc nhất vô nhị. (93)

Khả năng vận động sớm và sự dự của gia đình

Chúng tôi khuyến cáo , nếu có thể, duy trì ít nhất một vận động tiêu cực kể từ khi bắt đầu thở máy và ứng dụng các quy trình cho phép bao gồm tuốt nhóm làm việc và gia đình người lớn có COVID-19 ARDS.

Sự xúc tiếp của nhân viên y tế và nguy cơ lây truyền thực hành sử dụng hợp lý PPE (khẩu trang loại N95, áo choàng cách ly, bít tất tay, kính bảo vệ mắt và mặt nạ), vệ sinh tay đầy đủ và giảm thiểu tất cả các nguy cơ lây tiềm tàng, chẳng hạn như tự rút nội khí quản và sự khích động, trong số những người khác, là một ưu tiên. Một thí dụ là làn sóng nhiễm trùng trước hết ở vùng Lombardy của Ý, nơi có khoảng 9% ca nhiễm SARS-CoV-2 là ở viên chức y tế. (94) Do đó, xung đột nảy giữa những gì được đề xuất bởi gói ABCDEF và khái niệm về eCASH (bệnh nhân tỉnh táo và bình tĩnh đi cùng với gia đình của họ) và sự liên hợp do đại dịch gây ra với những bệnh nhân cần thở máy bảo vệ, an thần sâu trong nhiều trường hợp, và cách ly nghiêm ngặt cho cả gia đình và nhóm điều trị. (20,54) Như một kết quả của việc gia tăng nguy cơ lây nhiễm trong ICU và để bảo vệ sức khỏe của các nhóm làm việc và bệnh nhân, nhiều trọng tâm đã giảm trước sự gia nhập của nhân viên y tế, chả hạn như thầy thuốc vận động học, nhà trị liệu nghề nghiệp, nhà tâm lý học, nhân viên tầng lớp và gia đình. Khi các điều kiện về dịch tễ và ICU được cải thiện, chúng tôi tin rằng điều cần thiết là phải ưu tiên nhân chức lại tuốt luốt nhóm coi sóc sức khỏe duyệt y các quy trình đơn giản và rõ ràng.

Bảng 5 Liều lượng, các tác dụng ngoại ý và tương tác của các loại thuốc được đề xuất cho chứng sảng

Thuốc

Pha loãng

Nồng độ ổn định /chất pha loãng tương xứng

Liều ban đầu và truyền duy trì

Điều chỉnh liều lượng

Các biện pháp ngừa / tương tác với quản lý COVID-19 / các tác dụng phụ nghiêm trọng

Quetiapine viên 25, 50, 100, 200mg

NA

Duy trì: 50mg mỗi 12 giờ (liều tối đa 200mg mỗi 12 giờ)

LF: bắt đầu ở mức 25mg / ngày

Các tác dụng phụ: kéo dài khoảng QT, tăng áp huyết, nhịp tim nhanh

Tương tác: LPV / r: Tương tác tiềm năng.

Có thể làm tăng nồng độ quetiapine

Viên nén Olanzapine 2,5, 5, 10mg

NA

Duy trì: 5mg / ngày

RF: không điều chỉnh

LF: không điều chỉnh

Tác dụng ngoại ý: hạ huyết áp thế đứng, phù ngoại vi, tăng cholesterol máu

Tương tác: chẳng thể xảy ra với LPV / r

Viên nén Risperidone 0,5, 1, 2, 3, 4mg

NA

Duy trì: 0,5mg mỗi 12 giờ (liều tối đa 4mg / ngày)

RF nặng: dùng liều tối thiểu

LF nặng: sử dụng liều tối thiểu

Các tác dụng phụ: kéo dài khoảng QT, rối loạn chức năng máu

Tương tác: LPV / r: khả năng kéo dài khoảng QT; HCQ: tiềm năng tăng nồng độ risperidone

Haloperidol ống 5mg / mL

CS: 0,1mg / mL DX5% trong hộp thủy tinh

Không được thí nghiệm trong các dung dịch pha loãng hoặc vật chứa khác

Duy trì: 2,5mg mỗi 8 giờ (liều tối đa 20mg / ngày)

Ở người lớn tuổi, sử dụng liều tối thiểu

Các tác dụng phụ: kéo dài khoảng QT, hạ áp huyết, xoắn đỉnh

Tương tác: không dùng với LPV / r hoặc HCQ

Viên nén Haloperidol 1, 5 và 10mg

NA

Duy trì: 2,5 đến 5mg mỗi 8 giờ

Ở người lớn tuổi, dùng liều tối thiểu

Các tác dụng phụ: kéo dài khoảng QT, hạ huyết áp, xoắn đỉnh

Tương tác: không dùng với LPV / r hoặc HCQ

Đối với khả năng vận động sớm, điều quan trọng là phải duy trì chí ít vận động bị động ngay từ thời khắc đầu thở máy, đánh giá tính khả thi của tiến trình đó khi tình trạng lâm sàng của bệnh nhân cho phép. Việc vận động sớm của bệnh nhân được thở máy bởi một nhóm đa ngành đã được chứng minh là một thủ thuật khả thi, an toàn và đã được chứng minh là có tác động liên can đến lâm sàng đối với các tình trạng trước đại dịch. (95-97) Trong một nghiên cứu gần đây, sự tham dự linh hoạt của gia đình như được đề xuất trong gói ABCDEF, khi so sánh với một phác đồ hạn chế hơn, không ảnh hưởng đến kết quả lâm sàng ở bệnh nhân và viên chức nhưng đã làm giảm lo lắng và trầm cảm ở người nhà của họ. (98) Bất chấp kết quả này, đại dịch và sự cô lập, trước kinh nghiệm của bệnh nhân và gia đình, chúng tôi tin rằng cần đưa bệnh nhân về gần gia đình hơn. Trước khi thực hành các biện pháp này, đối với Argentina, chúng tôi khuyến cáo nên đọc luật về thông tin và cung cấp tham vấn pháp lý, để luôn bảo vệ lợi quyền của bệnh nhân và tuân nghĩa vụ chuyên môn của nhóm làm việc. (99)

luận bàn

Việc quản lý ASD ở những bệnh nhân nguy khốn đã thay đổi sâu sắc trong 20 năm qua, từ những bệnh nhân cốt tử được an thần sâu sang những bệnh nhân có đích an thần nhẹ hơn, kiểm soát cơn đau tốt hơn, khả năng vận động sớm và sự tham gia của gia đình như một phần của điều trị. Tuy nhiên, các cảnh huống bức của đại dịch can dự đến những bệnh nhân không cộng tác, những người bị đa bệnh lý và cách ly với gia đình và viên chức y tế của họ. Sự đồng thuận này tiến bộ các hướng dẫn về giảm đau ở bệnh nhân nguy khốn với COVID-19 ARDS do các chuyên gia thực hành với chứng cứ tốt nhất hiện có ở các nước có thu nhập cao nhưng theo kinh nghiệm và ý kiến về tình hình của ICU ở nước ta và Mỹ Latinh. (22,43, 58, 71, 77, 83, 100)

Một hạn chế là kết quả của việc điều chỉnh các chỉ dẫn quốc tế cho phù hợp với bối cảnh của chúng ta là chừng độ ưu tiên trong các tuổi nhất mực của các loại thuốc đã được loại bỏ trong các phác đồ điều trị. Biện pháp này đốn được hình thành như một chiến lược để hà tằn hà tiện các loại thuốc được lựa chọn, mà ở nước ta thường đắt tiền và thường phải nhập khẩu. Tuy nhiên, các loại thuốc được ưu tiên trong sự đồng thuận này có mặt trong các hướng dẫn thực hành lâm sàng quốc tế có can dự và khi được dùng hiệp, như được nêu chi tiết trong tài liệu này, có thể là đồng minh tiệt để bảo vệ các loại thuốc được chọn lọc và vẫn tạo ra lợi ích lâm sàng ở bệnh nhân. (15,101)

Đối mặt với thực tế mới trong các ICU được tạo ra bởi đại dịch COVID-19 đang diễn ra, chúng ta không nên trường đoản cú các “thực hiện tốt” thường ngày mà hãy điều chỉnh chúng. Cuộc khủng hoảng này nên được sử dụng như một cơ hội để thực hành một cách tiếp cận có hệ thống dựa trên bằng cớ tốt nhất hiện có, ưu tiên các chiến lược có mục tiêu với việc kiểm soát cơn đau đầy đủ và giảm dần thuốc an thần và các tác dụng phụ của nó trong thời kì ngắn và trung hạn. na ná như vậy, nó sẽ cho phép chúng tôi điều chỉnh hệ thống trong trường hợp khan hiếm nguồn lực y tế do đại dịch. Hiệu suất của nhóm đa ngành trong và ngoài ICU và khả năng của họ trong việc xác định, đánh giá và điều chỉnh các giao thức dựa trên chứng cớ tốt nhất hiện có, ngay cả trước khi các cơ quan chức năng ở cấp khu vực hoặc nhà nước có thể kết hợp các đổi thay trong các giao thức chung, là những tỉ dụ về tính linh hoạt và cam kết về sự đổi thay đó.

Sự đồng thuận của chúng ta có đích rút cục là giải quyết những vấn đề mà đại dịch thường đặt ra trong khu vực của chúng ta; do đó, chúng tôi coi xét việc phân chia tiến triển của bệnh thành các tuổi khác nhau để lập kế hoạch xử trí ASD cho bệnh nhân thở máy là ăn nhập. Bất kể loại thuốc được dùng là gì, chúng tôi tin rằng điều cần thiết là mỗi ICU phải thiết kế lịch trình quản lý an thần, giảm đau, sảng, khả năng vận động và sự dự của gia đình để đạt được cách tiếp cận nhất quán trong việc quản lý bệnh nhân và do đó cải thiện kết quả lâm sàng. (102)

REFERENCES

World Health Organization (WHO) Coronavirus disease (COVID-19) pandemic. 2020. [2020 Nov 11]. Available from: https://www.who.int/emergencies/diseases/novel-coronavirus-2019.

World Health Organization (WHO) WHO Coronavirus Disease (COVID-19) Dashboard. 2020. [2020 Nov 11]. Available from: https://covid19.who.int/

Argentina. Ministerio de Salud Nuevo coronavirus COVID-19. Jul, 2020. [2020 Nov 11]. Informe diario. Available from: https://www.argentina.gob.ar/coronavirus/informe-diario/julio2020.

Falavigna M, Colpani V, Stein C, Azevedo LC, Bagattini AM, Brito GV, et al. Diretrizes para o tratamento farmacológico da COVID-19. Consenso da Associação de Medicina Intensiva Brasileira, da Sociedade Brasileira de Infectologia e da Sociedade Brasileira de Pneumologia e Tisiologia. Rev Bras Ter Intensiva. 2020;32(2):166–196. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Centers for Disease Control and Prevention Interim Clinical Guidance for Management of Patients with Confirmed Coronavirus Disease (COVID-19) 2020. [2020 Nov 11]. Available from: https://www.cdc.gov/coronavirus/2019ncov/hcp/clinical-guidance-management-patients.html.

Siddiqi HK, Mehra MR. COVID-19 illness in native and immunosuppressed states: a clinical-therapeutic staging proposal. J Heart Lung Transplant. 2020;39(5):405–407. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Mahase E. Covid-19: most patients require mechanical ventilation in first 24 hours of critical care. BMJ. 2020;368:m1201–m1201. [PubMed] [Google Scholar]

Wu Z, McGoogan JM. Characteristics of and Important Lessons From the Coronavirus Disease 2019 (COVID-19) Outbreak in China: Summary of a Report of 72?314 Cases From the Chinese Center for Disease Control and Prevention. JAMA. 2020;323(13):1239–1242. [PubMed] [Google Scholar]

Liu K, Fang YY, Deng Y, Liu W, Wang MF, Ma JP, et al. Clinical characteristics of novel coronavirus cases in tertiary hospitals in Hubei Province. Chin Med J (Engl) 2020;133(9):1025–1031. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Young BE, Ong SW, Kalimuddin S, Low JG, Tan SY, Loh J, Ng OT, Marimuthu K, Ang LW, Mak TM, Lau SK, Anderson DE, Chan KS, Tan TY, Ng TY, Cui L, Said Z, Kurupatham L, Chen MI, Chan M, Vasoo S, Wang LF, Tan BH, Lin RTP, Lee VJ, Leo YS, Lye DC, Singapore 2019 Novel Coronavirus Outbreak Research Team Epidemiologic features and clinical course of patients infected with SARS-CoV-2 in Singapore. JAMA. 2020;323(15):1488–1494. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Richardson S, Hirsch JS, Narasimhan M, Crawford JM, McGinn T, Davidson KW, et al. Presenting characteristics, comorbidities, and outcomes among 5700 patients hospitalized with COVID-19 in the New York City Area. JAMA. 2020;323(20):2052–2059. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Argentina. Ministerio de Salud Nación invirtió 42 mil millones de pesos en la expansión del sistema de salud para responder a la pandemia de COVID-19. [2020 Nov 11]. Available from: https://www.argentina.gob.ar/noticias/nacioninvirtio-42-mil-millones-de-pesos-en-la-expansion-del-sistema-de-salud-para.

Ministerio de Salud de la Nación . Análisis de situación de salud: Republica Argentina. Ciudad Autónoma de Buenos Aires: Ministerio de Salud de la Nación; 2018. [2020 Nov 11]. Available from: https://bancos.salud.gob.ar/sites/default/files/2019-12/0000001392cnt-anlisis_de_situacin_de_salud__repblica_argentina_-_asis_2018_compressed.pdf. [Google Scholar]

Marra A, Ely EW, Pandharipande PP, Patel MB. The ABCDEF Bundle in Critical Care. Crit Care Clin. 2017;33(2):225–243. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Devlin JW, Skrobik Y, Gélinas C, Needham DM, Slooter AJC, Pandharipande PP, et al. Clinical Practice Guidelines for the Prevention and Management of Pain, Agitation/Sedation, Delirium, Immobility, and Sleep Disruption in Adult Patients in the ICU. Crit Care Med. 2018;46(9):e825–e873. [PubMed] [Google Scholar]

Emanuel EJ, Persad G, Upshur R, Thome B, Parker M, Glickman A, et al. Fair allocation of scarce medical resources in the time of Covid-19. N Engl J Med. 2020;382(21):2049–2055. [PubMed] [Google Scholar]

Zhou F, Yu T, Du R, Fan G, Liu Y, Liu Z, et al. Clinical course and risk factors for mortality of adult inpatients with COVID-19 in Wuhan, China: a retrospective cohort study. Lancet. 2020;395(10229):1054–1062. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Wunsch H. Mechanical ventilation in COVID-19: interpreting the current epidemiology. Am J Respir Crit Care Med. 2020;202(1):1–4. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Hernandez-Romieu AC, Adelman MW, Hockstein MA, Robichaux CJ, Edwards JA, Fazio JC, Blum JM, Jabaley CS, Caridi-Scheible M, Martin GS, Murphy DJ, Auld SC, Emory COVID-19 Quality and Clinical Research Collaborative Timing of intubation and mortality among critically ill coronavirus disease 2019 patients: a single-center cohort study. Crit Care Med. 2020;48(11):e1045–e1053. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Argentina. Ministerio de Salud Recomendaciones para el uso de los EPP. 2020. [2020 Nov 11]. Available from: https://www.sati.org.ar/images/MSN_19-03_EPP_Recomendaciones_uso_.pdf.

Argentina. Ministerio de Salud Nuevo coronavirus COVID-19. Tratamiento de sostén. [2020 Nov 11]. Available from: https://www.argentina.gob.ar/salud/coronavirus-COVID-19/tratamiento-sosten.

Carini F, Cassabella C, Garcia Sarubio M. Analgosedación en el paciente crítico en ventilación mecánica: el bundle ABCDEF en la pandemia de COVID-19. Rev Argentina Ter Intensiva. 2020;(Supl 1):47–53. [Google Scholar]

Georgiou E, Paikousis L, Lambrinou E, Merkouris A, Papathanassoglou ED. The effectiveness of systematic pain assessment on critically ill patient outcomes: a randomised controlled trial. Aust Crit Care. 2020;33(5):412–419. [PubMed] [Google Scholar]

Payen JF, Bru O, Bosson JL, Lagrasta A, Novel E, Deschaux I, et al. Assessing pain in critically ill sedated patients by using a behavioral pain scale. Crit Care Med. 2001;29(12):2258–2263. [PubMed] [Google Scholar]

Gélinas C, Fillion L, Puntillo KA, Viens C, Fortier M. Validation of the critical-care pain observation tool in adult patients. Am J Crit Care. 2006;15(4):420–427. [PubMed] [Google Scholar]

Markman JD, Gewandter JS, Frazer ME. Comparison of a pain tolerability question with the numeric rating scale for assessment of self-reported chronic pain. JAMA Netw Open. 2020;3(4):e203155. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Aitken LM, Bucknall T, Kent B, Mitchell M, Burmeister E, Keogh SJ, Cochrane Emergency and Critical Care Group Protocol-directed sedation versus non-protocol-directed sedation in mechanically ventilated intensive care adults and children. Cochrane Database Syst Rev. 2018;(11):CD009771–CD009771. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Shehabi Y, Al-Bassam W, Pakavakis A, Murfin B, Howe B. Optimal sedation and pain management: a patient- and symptom-oriented paradigm. Semin Respir Crit Care Med. 2020 Sep 21; [PubMed] [Google Scholar]

Sessler CN, Gosnell MS, Grap MJ, Brophy GM, O'Neal PV, Keane KA, et al. The Richmond Agitation-Sedation Scale: validity and reliability in adult intensive care unit patients. Am J Respir Crit Care Med. 2002;166(10):1338–1344. [PubMed] [Google Scholar]

Ely EW, Truman B, Shintani A, Thomason JW, Wheeler AP, Gordon S, et al. Monitoring sedation status over time in ICU patients: reliability and validity of the Richmond Agitation-Sedation Scale (RASS) JAMA. 2003;289(22):2983– 2991. [PubMed] [Google Scholar]

International Consortium for EEG Training of Anesthesia Practitioners (ICE-TAP) 2020. [2020 Jul 10]. Available from: https://icetap.org/

Riker RR, Picard JT, Fraser GL. Prospective evaluation of the Sedation-Agitation Scale for adult critically ill patients. Crit Care Med. 1999;27(7):1325–1329. [PubMed] [Google Scholar]

Bouju P, Tadié JM, Barbarot N, Letheulle J, Uhel F, Fillatre P, et al. Clinical assessment and train-of-four measurements in critically ill patients treated with recommended doses of cisatracurium or atracurium for neuromuscular blockade: a prospective descriptive study. Ann Intensive Care. 2017;7(1):10–10. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Baumann MH, McAlpin BW, Brown K, Patel P, Ahmad I, Stewart R, et al. A prospective randomized comparison of train-of-four monitoring and clinical assessment during continuous ICU cisatracurium paralysis. Chest. 2004;126(4):1267–1273. [PubMed] [Google Scholar]

Jacobi J, Fraser GL, Coursin DB, Riker RR, Fontaine D, Wittbrodt ET, Chalfin DB, Masica MF, Bjerke HS, Coplin WM, Crippen DW, Fuchs BD, Kelleher RM, Marik PE, Nasraway SA Jr, Murray MJ, Peruzzi WT, Lumb PD, Task Force of the American College of Critical Care Medicine of the Society of Critical Care Medicine.American Society of HealthSystem Pharmacists.American College of Chest Physicians Clinical practice guidelines for the sustained use of sedatives and analgesics in the critically ill adult. Crit Care Med. 2002;30(1):119–141. [PubMed] [Google Scholar]

Haenggi M, Blum S, Brechbuehl R, Brunello A, Jakob SM, Takala J. Effect of sedation level on the prevalence of delirium when assessed with CAM-ICU and ICDSC. Intensive Care Med. 2013;39(12):2171–2179. [PubMed] [Google Scholar]

Ely EW, Inouye SK, Bernard GR, Gordon S, Francis J, May L, et al. Delirium in mechanically ventilated patients: validity and reliability of the Confusion Assessment Method for the intensive care unit (CAM-ICU) JAMA. 2001;286(21):2703–2710. [PubMed] [Google Scholar]

Critical Illness. Brain Dysfunction, and Survivorship (CIBS) Center Confusion Assessment Method for the Intensive Care Unit (CAM-ICU) 2020. [2020 Nov 11]. Available from: https://www.icudelirium.org/medicalprofessionals/downloads/resources-by-category.

Bergeron N, Dubois MJ, Dumont M, Dial S, Skrobik Y. Intensive Care Delirium Screening Checklist: evaluation of a new screening tool. Intensive Care Med. 2001;27(5):859–864. [PubMed] [Google Scholar]

Hutchison LC, O'Brien CE Changes in pharmacokinetics and pharmacodynamics in the elderly patient. J Pharm Pract. 2007;20(1):4–12. [Google Scholar]

Montmeat D, Gard C, Raux M, Constantin JM, Tilleul P. Shortage of sedatives and neuromuscular blockers during COVID-19 pandemic: the result of an overstocking procedure in French hospitals? Anaesth Crit Care Pain Med. 2020;39(5):585–586. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Barr J, Fraser GL, Puntillo K, Ely EW, Gélinas C, Dasta JF, Davidson JE, Devlin JW, Kress JP, Joffe AM, Coursin DB, Herr DL, Tung A, Robinson BR, Fontaine DK, Ramsay MA, Riker RR, Sessler CN, Pun B, Skrobik Y, Jaeschke R, American College of Critical Care Medicine Clinical practice guidelines for the management of pain, agitation, and delirium in adult patients in the intensive care unit. Crit Care Med. 2013;41(1):263–306. [PubMed] [Google Scholar]

Ammar MA, Sacha GL, Welch SC, Bass SN, Kane-Gill SL, Duggal A, et al. Sedation, analgesia, and paralysis in COVID-19 patients in the setting of drug shortages. J Intensive Care Med. 2021;36(2):157–174. [PubMed] [Google Scholar]

University of Liverpool. COVID-19 Drug Interactions. 2020. [2020 Jul 10]. Available from: https://www.covid19druginteractions.org/checker.

IBM Mcromedex. [2020 Nov 11]. Available from: www.micromedexsolutions.com.

Devlin JW, Roberts RJ. Pharmacology of commonly used analgesics and sedatives in the ICU: benzodiazepines, propofol, and opioids. Crit Care Clin. 2009;25(3):431-49, vii. [PubMed] [Google Scholar]

Muellejans B, López A, Cross MH, Bonome C, Morrison L, Kirkham AJT. Remifentanil versus fentanyl for analgesia based sedation to provide patient comfort in the intensive care unit: a randomized, double-blind controlled trial [ISRCTN43755713] Crit Care. 2004;8(1):R1–11. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Yu EHY, Tran DH, Lam SW, Irwin MG. Remifentanil tolerance and hyperalgesia: short-term gain, long-term pain? Anaesthesia. 2016;71(11):1347–1362. [PubMed] [Google Scholar]

Wheeler KE, Grilli R, Centofanti JE, Martin J, Gelinas C, Szumita PM, et al. Adjuvant analgesic use in the critically ill: a systematic review and meta-analysis. Crit Care Explor. 2020;2(7):e0157. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Wanzuita R, Poli-de-Figueiredo LF, Pfuetzenreiter F, Cavalcanti AB, Westphal GA. Replacement of fentanyl infusion by enteral methadone decreases the weaning time from mechanical ventilation: a randomized controlled trial. Crit Care. 2012;16(2):R49–R49. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Bhatraju PK, Ghassemieh BJ, Nichols M, Kim R, Jerome KR, Nalla AK, et al. Covid-19 in critically ill patients in the Seattle Region - Case series. N Engl J Med. 2020;382(21):2012–2022. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Gandhi RT. Large COVID-19 case series from the New York City Area. NEJM J Watch; Apr 29, 2020. [CrossRef] [Google Scholar]

Guan WJ, Ni ZY, Hu Y, Liang WH, Ou CQ, He JX, Liu L, Shan H, Lei CL, Hui DSC, Du B, Li LJ, Zeng G, Yuen KY, Chen RC, Tang CL, Wang T, Chen PY, Xiang J, Li SY, Wang JL, Liang ZJ, Peng YX, Wei L, Liu Y, Hu YH, Peng P, Wang JM, Liu JY, Chen Z, Li G, Zheng ZJ, Qiu SQ, Luo J, Ye CJ, Zhu SY, Zhong NS, China Medical Treatment Expert Group for Covid-19 Clinical characteristics of coronavirus disease 2019 in China. N Engl J Med. 2020;382(18):1708–1720. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Vincent JL, Shehabi Y, Walsh TS, Pandharipande PP, Ball JA, Spronk P, et al. Comfort and patient-centred care without excessive sedation: the eCASH concept. Intensive Care Med. 2016;42(6):962–971. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Shehabi Y, Chan L, Kadiman S, Alias A, Ismail WN, Tan MA, Khoo TM, Ali SB, Saman MA, Shaltut A, Tan CC, Yong CY, Bailey M, Sedation Practice in Intensive Care Evaluation Study Group investigators Sedation depth and longterm mortality in mechanically ventilated critically ill adults: a prospective longitudinal multicentre cohort study. Intensive Care Med. 2013;39(5):910–918. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Kress JP, Pohlman AS, O'Connor MF, Hall JB. Daily interruption of sedative infusions in critically ill patients undergoing mechanical ventilation. N Engl J Med. 2000;342(20):1471–1477. [PubMed] [Google Scholar]

Garber PM, Droege CA, Carter KE, Harger NJ, Mueller EW. Continuous infusion ketamine for adjunctive analgosedation in mechanically ventilated, critically ill patients. Pharmacotherapy. 2019;39(3):288–296. [PubMed] [Google Scholar]

Grupo de Trabajo de Sedación, Analgésia y Delirium de Sociedad Española de Medicina Intensiva, Crítica y Unidades Coronrias (SEMICYUC) Protocolos de analgosedación en pacientes con infección por SARS-CoV-2 (COVID-19) en caso de desabastecimiento. 2020. [2020 Nov 11]. Available from: https://semicyuc.org/wpcontent/uploads/2020/03/PROTOCOLO-ANALGOSED-COVID-SEMICYUC.pdf.

Manasco AT, Stephens RJ, Yaeger LH, Roberts BW, Fuller BM. Ketamine sedation in mechanically ventilated patients: a systematic review and meta-analysis. J Crit Care. 2020;56:80–88. [PubMed] [Google Scholar]

Zhou Y, Jin X, Kang Y, Liang G, Liu T, Deng N. Midazolam and propofol used alone or sequentially for long-term sedation in critically ill, mechanically ventilated patients: a prospective, randomized study. Crit Care. 2014;18(3):R122– R122. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Wang H, Wang C, Wang Y, Tong H, Feng Y, Li M, et al. Sedative drugs used for mechanically ventilated patients in intensive care units: a systematic review and network meta-analysis. Curr Med Res Opin. 2019;35(3):435–446. [PubMed] [Google Scholar]

Le Guen M, Liu N, Tounou F, Augé M, Tuil O, Chazot T, et al. Dexmedetomidine reduces propofol and remifentanil requirements during bispectral index-guided closed-loop anesthesia: a double-blind, placebo-controlled trial. Anesth Analg. 2014;118(5):946–955. [PubMed] [Google Scholar]

Xia ZQ, Chen SQ, Yao X, Xie CB, Wen SH, Liu KX. Clinical benefits of dexmedetomidine versus propofol in adult intensive care unit patients: a meta-analysis of randomized clinical trials. J Surg Res. 2013;185(2):833–843. [PubMed] [Google Scholar]

Conti G, Ranieri VM, Costa R, Garratt C, Wighton A, Spinazzola G, et al. Effects of dexmedetomidine and propofol on patient-ventilator interaction in difficult-to-wean, mechanically ventilated patients: a prospective, open-label, randomised, multicentre study. Crit Care. 2016;20(1):206–206. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Cruickshank M, Henderson L, MacLennan G, Fraser C, Campbell M, Blackwood B, et al. Alpha-2 agonists for sedation of mechanically ventilated adults in intensive care units: a systematic review. Health Technol Assess. 2016;20(25):v–xx. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Terry K, Blum R, Szumita P. Evaluating the transition from dexmedetomidine to clonidine for agitation management in the intensive care unit. SAGE Open Med. 2015;3:2050312115621767–2050312115621767. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Gagnon DJ, Riker RR, Glisic EK, Kelner A, Perrey HM, Fraser GL. Transition from dexmedetomidine to enteral clonidine for ICU sedation: an observational pilot study. Pharmacotherapy. 2015;35(3):251–259. [PubMed] [Google Scholar]

Wang JG, Belley-Coté E, Burry L, Duffett M, Karachi T, Perri D, et al. Clonidine for sedation in the critically ill: a systematic review and meta-analysis. Crit Care. 2017;21(1):75–75. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Mion G. Ketamine infusions for sedation in ICU. Anaesth Crit Care Pain Med. 2019;38(4):397–398. [PubMed] [Google Scholar]

Groetzinger LM, Rivosecchi RM, Bain W, Bahr M, Chin K, McVerry BJ, et al. Ketamine infusion for adjunct sedation in mechanically ventilated adults. Pharmacotherapy. 2018;38(2):181–188. [PubMed] [Google Scholar]

Devlin JW, O'Neal HR Jr, Thomas C., Barnes Daly MA., Stollings JL., Janz DR, et al. Strategies to Optimize ICU Liberation (A to F) Bundle Performance in Critically Ill Adults With Coronavirus Disease 2019. Crit Care Explor. 2020;2(6):e0139. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Katoh N, Ohya Y, Ikeda M, Ebihara T, Katayama I, Saeki H, et al. Clinical practice guidelines for the management of atopic dermatitis 2018. J Dermatol. 2019;46(12):1053–1101. [PubMed] [Google Scholar]

Greenberg SB, Vender J. The use of neuromuscular blocking agents in the ICU: where are we now? Crit Care Med. 2013;41(5):1332–1344. [PubMed] [Google Scholar]

Papazian L, Forel JM, Gacouin A, Penot-Ragon C, Perrin G, Loundou A, Jaber S, Arnal JM, Perez D, Seghboyan JM, Constantin JM, Courant P, Lefrant JY, Guérin C, Prat G, Morange S, Roch A, ACURASYS Study Investigators Neuromuscular blockers in early acute respiratory distress syndrome. N Engl J Med. 2010;363(12):1107–1116. [PubMed] [Google Scholar]

National Heart, Lung, and Blood Institute PETAL Clinical Trials Network. Moss M, Huang DT, Brower RG, Ferguson ND, Ginde AA, Gong MN, et al. Early neuromuscular blockade in the acute respiratory distress syndrome. N Engl J Med. 2019;380(21):1997–2008. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

deBacker J, Hart N, Fan E. Neuromuscular Blockade in the 21st Century Management of the Critically Ill Patient. Chest. 2017;151(3):697–706. [PubMed] [Google Scholar]

Alhazzani W, Møller MH, Arabi YM, Loeb M, Gong MN, Fan E, et al. Surviving Sepsis Campaign: Guidelines on the management of critically ill adults with coronavirus disease 2019 (COVID-19) Intensive Care Med. 2020;46(5):854–887. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Moore L, Kramer CJ, Delcoix-Lopes S, Modrykamien AM. Comparison of cisatracurium versus atracurium in early ARDS. Respir Care. 2017;62(7):947–952. [PubMed] [Google Scholar]

Aung Thein MZ, Pereira J V, Nitchingham A, Caplan GA. A call to action for delirium research: meta-analysis and regression of delirium associated mortality. BMC Geriatr. 2020;20(1):325–325. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Garcez FB, Aliberti MJ, Poco PC, Hiratsuka M, Takahashi SF, Coelho VA, et al. Delirium and adverse outcomes in hospitalized patients with COVID-19. J Am Geriatr Soc. 2020;68(11):2440–2446. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Khan SH, Lindroth H, Perkins AJ, Yasser J, Wang S, Roberts S, et al. Delirium Incidence, Duration and Severity in Critically Ill Patients with COVID-19. Crit Care Explor. 2020;2(12):e0290. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Docherty AB, Harrison EM, Green CA, Hardwick HE, Pius R, Norman L, Holden KA, Read JM, Dondelinger F, Carson G, Merson L, Lee J, Plotkin D, Sigfrid L, Halpin S, Jackson C, Gamble C, Horby PW, Nguyen-Van-Tam JS, Ho A, Russell CD, Dunning J, Openshaw PJ, Baillie JK, Semple MG, ISARIC4C investigators Features of 20 133 UK patients in hospital with covid-19 using the ISARIC WHO Clinical Characterisation Protocol: prospective observational cohort study. BMJ. 2020;369:m1985–m1985. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Kotfis K, Williams Roberson S, Wilson JE, Dabrowski W, Pun BT, Ely EW. COVID-19: ICU delirium management during SARS-CoV-2 pandemic. Crit Care. 2020;24(1):176–176. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Santos E, Cardoso D, Neves H, Cunha M, Rodrigues M, Apóstolo J. Effectiveness of haloperidol prophylaxis in critically ill patients with a high risk of delirium: a systematic review. JBI Database Syst Rev Implement Rep. 2017;15(5):1440–1472. [PubMed] [Google Scholar]

Schrijver EJ, de Graaf K, de Vries OJ, Maier AB, Nanayakkara PW. Efficacy and safety of haloperidol for in-hospital delirium prevention and treatment: a systematic review of current evidence. Eur J Intern Med. 2016;27:14–23. [PubMed] [Google Scholar]

Girard TD, Exline MC, Carson SS, Hough CL, Rock P, Gong MN, Douglas IS, Malhotra A, Owens RL, Feinstein DJ, Khan B, Pisani MA, Hyzy RC, Schmidt GA, Schweickert WD, Hite RD, Bowton DL, Masica AL, Thompson JL, Chandrasekhar R, Pun BT, Strength C, Boehm LM, Jackson JC, Pandharipande PP, Brummel NE, Hughes CG, Patel MB, Stollings JL, Bernard GR, Dittus RS, Ely EW, MIND-USA Investigators Haloperidol and ziprasidone for treatment of delirium in critical illness. N Engl J Med. 2018;379(26):2506–2516. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Choi M, Barra ME, Newman K, Sin JH. Safety and effectiveness of intravenous chlorpromazine for agitation in critically ill patients. J Intensive Care Med. 2018;35(10):1118–1122. [PubMed] [Google Scholar]

Herling SF, Greve IE, Vasilevskis EE, Egerod I, Bekker Mortensen C, Moller AM, et al. Interventions for preventing intensive care unit delirium in adults. Cochrane Database Syst Rev. 2018;11(11):CD009783–CD009783. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Burry L, Hutton B, Williamson DR, Mehta S, Adhikari NK, Cheng W, et al. Pharmacological interventions for the treatment of delirium in critically ill adults. Cochrane Database Syst Rev. 2019;9(9):CD011749–CD011749. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Pandharipande PP, Sanders RD, Girard TD, McGrane S, Thompson JL, Shintani AK, Herr DL, Maze M, Ely EW, MENDS investigators Effect of dexmedetomidine versus lorazepam on outcome in patients with sepsis: an a prioridesigned analysis of the MENDS randomized controlled trial. Crit Care. 2010;14(2):R38–R38. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Jakob SM, Ruokonen E, Grounds RM, Sarapohja T, Garratt C, Pocock SJ, Bratty JR, Takala J, Dexmedetomidine for Long-Term Sedation Investigators Dexmedetomidine vs midazolam or propofol for sedation during prolonged mechanical ventilation: two randomized controlled trials. JAMA. 2012;307(11):1151–1160. [PubMed] [Google Scholar]

Reade MC, O’Sullivan K, Bates S, Goldsmith D, Ainslie WR, Bellomo R. Dexmedetomidine vs. haloperidol in delirious, agitated, intubated patients: a randomised open-label trial. Crit Care. 2009;13(3):R75–R75. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Pun BT, Balas MC, Barnes-Daly MA, Thompson JL, Aldrich JM, Barr J, et al. Caring for Critically Ill Patients with the ABCDEF Bundle: Results of the ICU Liberation Collaborative in Over 15,000 Adults. Crit Care Med. 2019;47(1):3– 14. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

HealthManagement.org COVID-19 Pandemic: Lessons from Italy. 2020. [2020 Jul 10]. Available from: https://healthmanagement.org/c/icu/news/covid-19-pandemic-lessons-from-italy.

Hodgson CL, Stiller K, Needham DM, Tipping CJ, Harrold M, Baldwin CE, et al. Expert consensus and recommendations on safety criteria for active mobilization of mechanically ventilated critically ill adults. Crit Care Med. 2014;18(6):658–658. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Schweickert WD, Pohlman MC, Pohlman AS, Nigos C, Pawlik AJ, Esbrook CL, et al. Early physical and occupational therapy in mechanically ventilated, critically ill patients: a randomised controlled trial. Lancet. 2009;373(9678):1874–1882. [PubMed] [Google Scholar]

Ely EW. The ABCDEF bundle: science and philosophy of how ICU liberation serves patients and families. Crit Care Med. 2017;45(2):321–330. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Rosa RG, Falavigna M, da Silva DB, Sganzerla D, Santos MMS, Kochhann R, de Moura RM, Eugênio CS, Haack TDSR, Barbosa MG, Robinson CC, Schneider D, de Oliveira DM, Jeffman RW, Cavalcanti AB, Machado FR, Azevedo LCP, Salluh JIF, Pellegrini JAS, Moraes RB, Foernges RB, Torelly AP, Ayres LO, Duarte PAD, Lovato WJ, Sampaio PHS, de Oliveira Júnior LC, Paranhos JLDR, Dantas ADS, de Brito PIPGG, Paulo EAP, Gallindo MAC, Pilau J, Valentim HM, Meira Teles JM, Nobre V, Birriel DC, Corrêa E, Castro L, Specht AM, Medeiros GS, Tonietto TF, Mesquita EC, da Silva NB, Korte JE, Hammes LS, Giannini A, Bozza FA, Teixeira CICU, Visits Study Group Investigators. Brazilian Research in Intensive Care Network Effect of flexible family visitation on delirium among patients in the intensive care unit: the ICU visits randomized clinical trial. JAMA. 2019;322(3):216–228. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Argentina. Senado y Cámara de Diputados de la Nación Argentina Ley 27.553. Boletin Oficial de la República Argentina. 11/08/2020. [2020 Nov 11]. Available from: https://www.boletinoficial.gob.ar/detalleAviso/primera/233439/20200811.

Ballesteros Sanz MA, Hernández-Tejedor A, Estella A, Jiménes Rivera JJ, Gonzáles de Molina Ortiz FJ, Sandiumenge Camps A, et al. Recomendaciones de "hacer" y "no hacer" en el tratamiento de los pacientes críticos ante la pandemia por coronavirus causante de COVID-19 de los Grupos de Trabajo de la Sociedad Española de Medicina Intensiva, Crítica y Unidades Coronarias (SEMICYUC) Med Intensiva. 2020;44(6):371–388. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Celis-Rodríguez E, Birchenall C, de la Cal MA, Castorena Arellano G, Hernández A, Ceraso D, et al. Guía de práctica clínica basada en la evidencia para el manejo de la sedoanalgesia en el paciente adulto críticamente enfermo. Med Intensiva. 2013;37(8):519–574. [PubMed] [Google Scholar]

Davidson JE, Harvey MA, Bemis-Dougherty A, Smith JM, Hopkins RO. Implementation of the Pain, Agitation, and Delirium Clinical Practice Guidelines and promoting patient mobility to prevent post-intensive care syndrome. Crit Care Med. 2013;41(9) Suppl 1:S136–S145. [PubMed] [Google Scholar]

Artikel Terkait

Back To Top