SỨC BỀN hồng cầu
(Erythrocyte Osmotic Fragility test)
NGUYÊN LÝ
Sức bền hồng cầu là sức chịu đựng của hồng huyết cầu dưới tác dụng làm tan máu của các dung dịch muối khi hạ thấp dần nồng độ. Sức bền hồng cầu phụ thuộc vào tính thấm của màng hồng cầu.
Màng hồng cầu là khát bán thấm, bởi vậy khi cho hồng huyết cầu vào dung dịch nhược trương, nước sẽ từ ngoài vào trong hồng huyết cầu để thăng bằng áp lực thẩm thấu, làm trương to hồng cầu. Dung dịch càng nhược trương nước sẽ vào càng nhiều và hồng huyết cầu càng dễ vỡ. Lợi dụng thuộc tính đó người ta cho hồng huyết cầu vào một loạt các dung dịch nhược trương có nồng độ khác nhau, ở pH = 7,4 để ở nhiệt độ phòng xét nghiệm. Sau một thời kì cố định quan sát mức độ tan của hồng cầu để đánh giá tính vững bền của màng hồng cầu.
CHỈ ĐỊNH
Các trường hợp nghĩ đến bệnh lý huyết sắc tố, bệnh thiếu máu tan máu.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Không có chống chỉ định.
CHUẨN BỊ
Người thực hiện
Kỹ thuật viên xét nghiệm đã được đào tạo.
dụng cụ - Hóa chất
Phương tiện
Máy ly tâm ống máu;
Pipet và đầu pipet loại 25µl và 1000µl;
Các ống nghiệm thủy tinh loại 5 ml;
Nền trắng bằng giấy hoặc nhựa đục.
căng thẳng, giấy thấm.
Hóa chất
Dung dịch muối đệm với các nồng độ khác nhau. Cách pha như sau:
Chuẩn bị dung dịch mẹ là một dung dịch đệm muối chloride có áp lực thẩm thấu tương đương với 100g/l (1,71 mol/l) NaCl như sau: hòa tan trong nước 90 gram NaCl; 13,65g Na 2 HPO 4 và 2,34g NaH 2 PO 4 .2H 2 O và điều chỉnh thể tích về 1 lít. Dung dịch mẹ này dùng trong 1 tháng, bảo quản lạnh 4 độ C (trong quá trình bảo quản lạnh có thể xuất hiện kết tinh thể trong lọ dung dịch. Khi đó phải để dung dịch mẹ ra nhiệt độ phòng và hòa tan tinh thể trước khi dùng).
Từ dung dịch mẹ này trước nhất pha loãng 10 lần với nước cất thành dung dịch 10% o (10g/l), sau đó từ dung dịch này pha loãng thành các dung dịch muối ở các nồng độ thấp hơn: 7% o , 6% o , 5.5% o , 5.0% o , 4.75% o , 4.5% o , 4.25% o , 4.0% o , 3.75% o , 3.5% o , 3.25% o , 3% o , 2.75% o , 2.5% o , 2% o , 1% o .
Nước cất, hoá chất tiệt trùng Natri hypoclorite.
Bệnh phẩm
Là mẫu máu ngoại vi của các đối tượng người bệnh bị bệnh máu và có chỉ định của lâm sàng.
CÁC BƯỚC TIẾN HÀNH
Lấy bệnh phẩm
Lấy 3ml máu tĩnh mạch, chống đông bằng Heparin (không nên dùng chất chống đông EDTA, Citrate hoặc Oxalate vì như vậy là cho thêm muối vào môi trường làm đổi thay sức ép thẩm thấu).
Nếu bảo quản mẫu ở nhiệt độ phòng, cần làm xét nghiệm trong vòng 2 giờ kể từ khi lấy máu. Nếu bảo quản mẫu ở nhiệt độ 4 độ C, có thể làm xét nghiệm trong vòng 6 giờ kể từ khi lấy máu.
Tiến hành kỹ thuật
Lấy 16 ống thử thuỷ tinh loại 5ml xếp vào giá, ghi danh tiếng người bệnh, đánh số trật tự từ 1 đến 16.
Cho lần lượt 3ml dung dịch nhược trương với các nồng độ tuần tự từ 1% o đến 7% o vào 16 ống.
Đảo nhẹ nhõm ống máu vài lần để trộn kỹ máu trong ống. Nhỏ 100 µl máu đã trộn vào mỗi ống dung dịch nhược trương.
Lấy bông không thấm nước bịt ống thử, nhẹ nhàng đảo ống vài lần để trộn đều máu và dung dịch trong ống.
Để các ống nghiệm thẳng đứng trên giá ở nhiệt độ phòng từ 1 - 2 giờ, sau đó đọc kết quả tan máu tại các ống.
NHẬN ĐỊNH KẾT QUẢ
Đọc kết quả
Bắt đầu tan: là nồng độ muối tại ống mà khi quan sát thấy phần dịch nổi ở ống đấy chuyển sang mầu hồng, ở đáy ống nhìn thấy cúc hồng huyết cầu.
Tan hoàn toàn: là nồng độ muối tại ống mà khi quan sát thấy phần dịch nổi ở ống đấy có mầu đỏ trong và không còn nhìn thấy cúc hồng huyết cầu ở đáy ống.
Nhận định kết quả
thường ngày: Bắt đầu tan từ: 4,5 - 5‰;
Tan hoàn toàn từ: 3 - 3,5‰
Sức bền hồng cầu tăng: Bắt đầu tan từ: <4,5‰;>
Tan hoàn toàn từ: <3‰>
Sức bền hồng huyết cầu giảm: Bắt đầu tan từ: 5‰;
Tan hoàn toàn từ 3,5‰
NHỮNG Sai sót VÀ XỬ TRÍ
Sai sót mẫu bệnh phẩm: tên bệnh nhân trên giấy xét nghiệm và trên ống mẫu không thống nhất, mẫu bị đông, mẫu không ghi giờ lấy.
Xử trí: đề nghị nơi đưa mẫu xác minh lại các thông tin cấp thiết, nếu mẫu bị đông hoặc đã để quá lâu thì phải lấy lại mẫu bệnh phẩm.
sơ sót trong quá trình nhận định kết quả.
Xử trí: thẩm tra cẩn thận, nếu cấp thiết phải đọc màu dịch nổi trên nền giấy trắng.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Dacie J. V., Lewis S. M. Osmotic fracgility, as measured by lysis in hypotonic saline . In “Practical Haematology”. Longman, 1994; 8 th Edition: 21620.
Laboratory Network. Haemophilia 2005 ; 11: 387 - 97.
