Trang

Tài Liệu Chữa Bệnh Đông Y Nhân Gian về các vị thuốc

Tài Liệu Chữa Bệnh Đông Y Nhân Gian về các vị thuốc, bài loại thuốc và Cách chữa bệnh Y học cổ truyền tốt nhất, Tài liệu khí công chữa bệnh Y Đạo

Thứ Hai, 6 tháng 9, 2021

Liệu pháp oxy kéo dài sau nhiễm trùng COVID-19: Các yếu tố dẫn đến nguy cơ kết cục kém

Liệu pháp oxy kéo dài sau nhiễm trùng COVID-19: Các yếu tố dẫn đến nguy cơ kết cục kém

, , , , , ,

Cureus. 2021 Feb; 13(2): e13357.

Published online 2021 Feb 15. doi: 10.7759/cureus.13357

Dịch bởi: BS. Đặng Thanh Tuấn – BV Nhi Đồng 1

tóm lược

Cơ sở: Bệnh do coronavirus 2019 (COVID-19) hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng gây ra bởi coronavirus 2 (SARS-CoV-2), một loại axit ribonucleic chuỗi đơn (RNA) β-coronavirus. thời kì kéo dài của các triệu chứng, sức khỏe kém, tật nguyền và cần nhập viện là tất các đặc điểm lừng danh của bệnh COVID-19 nghiêm trọng.

Mục tiêu: biểu thị các đặc điểm dịch tễ học, lâm sàng và hình ảnh của bệnh nhân COVID-19 nhập viện đề nghị điều trị oxy kéo dài sau khi xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 và chũm xác định các nguyên tố liên tưởng dẫn đến chậm hồi phục, không cai được và tử vong.

nguyên liệu và Phương pháp: Nghiên cứu quan sát tiền cứu từ ngày 9 tháng 9 đến ngày 6 tháng 11 năm 2020 tại bệnh viện COVID chăm chút cấp ba của Jharkhand. Bao gồm bệnh nhân nhiễm COVID-19 cần oxy để duy trì độ bão hòa ≥95% sau khi xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR) âm tính. Các bệnh nhân được xếp vào Nhóm I, những người có thể cai được oxy và Nhóm II, những người chẳng thể cai được oxy trong thời gian họ ở trong khu cách ly. Một đánh giá chi tiết về kết quả ở hai nhóm này liên tưởng đến tuổi, giới tính, có hay không có bệnh đồng mắc, bản chất của các bệnh đồng mắc và kết quả chụp CT độ phân giải cao (HRCT) lồng ngực đã được thực hành để xác định các nhân tố nguy cơ dẫn đến việc không cai oxy và kết quả bất lợi.

Kết quả: Trong thời kì nghiên cứu, 93 bệnh nhân nhiễm COVID-19 mức độ nhàng nhàng đến nặng, không thể xuất viện và được đưa vào khu cách ly sau COVID sau khi xét nghiệm RT-PCR âm tính, do khó thở và cần thở oxy, với tỷ lệ nam giới chiếm ưu thế, tỷ lệ M: F là 2,2:1. Trong số 93 bệnh nhân này, 51 bệnh nhân có thể được cai oxy trong khu cách ly. Tuổi nhàng nhàng và tuổi làng nhàng của những bệnh nhân có thể cai oxy thành công tuần tự là 58,5 ± 14,3 tuổi và 60 tuổi, so với tuổi làng nhàng là 64 ± 12,4 tuổi và tuổi nhàng nhàng là 67 tuổi của những bệnh nhân không thể cai oxy trong thời gian thời kì cách ly. Bệnh nhân ≥60 tuổi có nguy cơ cần thở oxy kéo dài so với những bệnh nhân <50 tuổi,="" nguy="" cơ="" tương="" đối="" (rr)="" 1,43="" (ktc="" 95%="" 0,9-2,="" p="" không="" cai="" oxy="" trong="" <50="" tuổi="" được="" ghi="" nhận="" khi="" có="" bệnh="" đồng="" mắc,="" rr="" 4="" 1,510,6,="" phân="" tích="" hồi="" quy="" logistic="" đa="" biến="" đã="" tính="" toán="" tỷ="" lệ="" chênh="" lệch="" (or)="" là="" 12,22="" 2,4-61,5,="" <0,002)="" ở="" nhân="" động="" mạch="" vành="" (cad),="" và="" 3,34="" 1,01-10,9,="" <0,046)="" đái="" tháo="" đường,="" do="" chậm="" phục="" từ="" 50="" trở="" lên,="" nhiều="" mắc.="" sự="" hiện="" diện="" của="" ≥="" 3="" mắc="" liên="" quan="" đến="" tăng="" nhập="" viện="" tại="" đơn="" vị="" chăm="" sóc="" trọng="" (ccu)="" (rr="" 2,1,="" 1,79,="" <0,006)="" tử="" vong="" (p="0,01).

Kết luận: Bệnh nhân ≥50 tuổi có ≥ 3 bệnh đồng mắc có nguy cơ cao phải nhập viện kéo dài và điều trị bằng oxy trong tình trạng nhiễm COVID-19 chừng độ làng nhàng đến nặng, không thể xuất viện ngay cả khi xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2. Bệnh nhân nam cao tuổi của COVID-19 với CAD và nhiều bệnh đi kèm có nguy cơ tử vong cao.

Giới thiệu

Bệnh do Coronavirus 2019 (COVID-19) gây ra bởi coronavirus 2 (SARS-CoV-2) hội chứng hô hấp cấp tính nghiêm trọng, là một loại β-coronavirus mới, axit ribonucleic sợi đơn (RNA) [1]. thời kì kéo dài của các triệu chứng, sức khỏe kém, tàn tật và cần nhập viện là vơ các đặc điểm nức danh của bệnh COVID-19 nghiêm trọng [2]. Hiểu được các nguyên tố dẫn đến kết quả kém có thể cho phép các chuyên gia chăm sóc sức khỏe điều chỉnh các biện pháp can thiệp, phân bổ nguồn lực, xây dựng chính sách bệnh viện và tiên lượng kết quả của bệnh nhân một cách phù hợp.

Mục tiêu của nghiên cứu này là bộc lộ các đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và hình ảnh của bệnh nhân nhập viện với COVID-19 cần điều trị oxy kéo dài sau khi thí điểm phản ứng chuỗi polymerase phiên mã ngược (RT-PCR) âm tính với SARS-CoV-2 và rứa xác định các nguyên tố can dự dẫn đến chậm bình phục, không cai oxy được và tử vong.

vật liệu và phương pháp

Nghiên cứu được thực hiện tại khu cách ly sau nhiễm COVID (còn gọi là khu cách ly) của một bệnh viện cấp ba có cơ sở COVID ở bang Jharkhand, Ấn Độ. Đây là một nghiên cứu quan sát tiền cứu từ ngày 9 tháng 9 đến ngày 6 tháng 11 năm 2020. Cỡ mẫu bao gồm tuốt tuột các bệnh nhân nhiễm COVID-19 được đưa vào khu cách ly vì khó thở cần thở oxy để duy trì độ bão hòa ≥95%, trừ trường hợp họ xuất viện. vơ họ đã được đưa vào cơ sở COVID của bệnh viện ít ra 10 ngày kể từ khi xuất hiện các triệu chứng và đã xét nghiệm RT-PCR âm tính với SARS-CoV-2, trước khi chuyển đến khu cách ly. thời kì nghiên cứu tương ứng với thời khắc số lượng bệnh nhân nhiễm COVID-19 cao nhất vẫn phải nhập viện vì các chỉ định khác nhau, ngay cả sau khi xét nghiệm RT-PCR âm tính với SARS-CoV-2 (tỷ lệ nhập viện cao nhất do nhiễm COVID-19 hoạt động là từ tháng 8 đến tháng 9 năm 2020).

Chính sách xuất viện được bệnh viện tuân theo là theo chỉ thị của chính phủ tiểu bang đối với vơ bệnh nhân nhập viện bị COVID-19 [3]. Bệnh nhân mắc bệnh COVID-19 vừa và nặng được xuất viện sau 10 ngày kể từ khi có triệu chứng, nếu các triệu chứng đã hết và không còn nhu cầu oxy trong ít ra ba ngày liên tiếp (bệnh vừa được định tức thị viêm phổi với tả lâm sàng khó thở và hoặc thiếu oxy, sốt, ho, độ bão hòa oxy 90-94% trong không khí trong phòng, nhịp thở 15-30 nhịp/phút; bệnh nặng được xác định là các dấu hiệu lâm sàng của viêm phổi với các miêu tả sau: nhịp thở 30 nhịp/phút, suy hô hấp cấp. hội chứng (ARDS), độ bão hòa oxy <90% trong="" không="" khí="" phòng,="" hoặc="" sốc="" nhiễm="" trùng).="" khi="" đạt="" tiêu="" chuẩn="" xuất="" viện,="" bệnh="" nhân="" được="" ổn="" định="" và="" chuyển="" sang="" khu="" cách="" ly="" sau="" xét="" nghiệm="" rt-pcr="" âm="" tính="" với="" sars-cov-2.="" những="" này="" tiếp="" tục="" quản="" lý="" thời="" gian="" quy="" là="" bảy="" ngày="" (14="" trước="" 14="" tháng="" 9),="" cho="" đến="" họ="" đáp="" ứng="" các="" viện="" cơ="" sở="" covid="" của="" hoàn="" thành="" giai="" đoạn="" ly.="" trường="" hợp="" triệu="" chứng="" trở="" nên="" tồi="" tệ="" hơn="" quá="" trình="" ly,="" đơn="" vị="" chăm="" sóc="" quan="" trọng="" (ccu)="" để="" xử="" trí="" thêm.<="p">

Các số đo kết cục bao gồm cai oxy thành công khỏi oxy, thời gian lưu trú (LOS) và cần chuyển đến CCU, xuất viện hoặc chết trong thời kì cách ly trong khu cách ly.

Căn cứ vào yêu cầu hỗ trợ oxy, bệnh nhân được chia thành hai nhóm: Nhóm I là những người có thể cai được oxy và nhóm II là những người chẳng thể cai được oxy trong thời gian cách ly như đã nêu ở trên. Một đánh giá chi tiết về kết quả ở hai nhóm này liên can đến tuổi, giới tính, có hay không có bệnh đồng mắc, thực chất của các bệnh đồng mắc và kết quả chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT) của lồng ngực cho điểm chừng độ nghiêm trọng đã được thực hiện để xác định các yếu tố hiểm nguy mức độ cao cho kết quả bất lợi. Đối với HRCT lồng ngực, mỗi thùy phổi được đánh giá từ 0-5 điểm dựa trên diện tích liên hệ, với điểm 0 cho hiệu suất (performance) thông thường, 1 cho dưới 5%, 2 cho 6-25%, 3 cho 26-50%, 4 cho 5175% và 5 cho 75% các khu vực thùy phổi liên tưởng. Tổng điểm được ghi lại bằng cách cộng điểm của mỗi thùy cho tối thiểu là 0 và tối đa là 25. Điểm <8 được="" báo="" cáo="" là="" nhẹ,="" 9-15="" trung="" bình="" và=""> 15 là nặng [4].

Các biến liên tục được tóm tắt bằng công cụ của chúng và độ lệch chuẩn (SD) và các biến phân loại được tóm lược bằng số lượng và tỷ lệ phần trăm ứng. phân tách rủi ro được thực hành bằng cách tính tình rủi ro tương đối (RR), tỷ lệ chênh (OR) và phân tách hồi quy đa biến. Kiểm định ý nghĩa giữa các nhóm được tính toán bằng kiểm định Chi bình phương hoặc kiểm định xác thực của Fisher. Giá trị p <0,05 được="" coi="" là="" có="" ý="" nghĩa.<="p">

Kết quả

Nhóm nghiên cứu bao gồm 93 bệnh nhân nhiễm COVID-19 được đưa vào khu cách ly do khó thở cần điều trị oxy để duy trì độ bão hòa ≥95% sau khi xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2, không cho phép họ xuất viện.

Trong thời gian nghiên cứu từ ngày 9 tháng 9 đến ngày 6 tháng 11 năm 2020, có tổng số 156 bệnh nhân không thể xuất viện khỏi các cơ sở dương tính với COVID vì các chỉ định khác nhau và được đưa vào khu cách ly sau khi họ có kết quả xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2. Một trăm tám người là nam và 48 người là nữ, với tỷ lệ M: F là 2,2:1. duyên cớ phổ biến nhất của việc nhập viện kéo dài ở những bệnh nhân này là cần điều trị oxy để duy trì độ bão hòa ≥95%, gặp ở 93 (59,6%) bệnh nhân dự nhóm nghiên cứu của chúng tôi. Trong số 30/156 bệnh nhân ≥70 tuổi, 29 (96,6%) cần thở oxy tại thời điểm chuyển đến khu cách ly. Một đánh giá chi tiết về 93 bệnh nhân cần thở oxy, can hệ đến tuổi, giới tính, sự hiện diện của các bệnh đồng mắc và các phát hiện HRCT ở ngực, đã được thực hành để xác định các yếu tố nguy cơ dẫn đến kết cục xấu.

Sáu mươi bốn bệnh nhân cần điều trị oxy khi chuyển đến khu cách ly là nam và 29 là nữ (tỷ lệ M: F là 2,2:1). Mười tám (19,3%) bệnh nhân <50 tuổi="" và="" 75="" (80,6%)="" ≥50="" (bảng="" 1).="" bệnh="" nhân="" ≥60="" có="" nguy="" cơ="" cao="" hơn="" đối="" với="" nhu="" cầu="" oxy="" kéo="" dài="" so="" những="" <50="" (rr="" 1,43,="" ktc="" 95%="" 0,9-2,="" thống="" kê="" z="" 1,9,="" p="0,13).

Bảng 1 Phân bố giới tính và tuổi với thời gian nằm viện tại khu cách ly cho vớ dân số nghiên cứu, Nhóm I và Nhóm II. N = 93

Parameter

Total study population

Group I (Weaned from oxygen in ISOW)

Group II (Not Weaned off oxygen in ISOW)

Patients requiring Oxygen therapy

93

51

42

Male

64

37

27

Female

29

14

15

Age <50 (years)<="p">

18

13

5

Age ≥50 (years)

75

38

37

Age range (years)

25-86

26-82

25-86

Median Age (years)

62.5

60

67

Mean Age ± (SD) (years)

60.5 ± 13.7

58.5 ± 14.3

64 ± 12.4

Median LOS before transfer to ISOW (days)

14

11

17

LOS in ISOW Mean ± SD (days)

5.5 ± 2.4

4.6 ± 1.7

6.0 ± 3.1

SD: độ lệch chuẩn, LOS: thời kì tạm trú, ISOW: khu cách ly. Nhóm I: bệnh nhân cai oxy oxy thành công tại khu cách ly. Nhóm II: những bệnh nhân không cai được oxy trong khu cách ly.

Năm mươi mốt (54,3%) bệnh nhân có thể cai oxy oxy thành công trong khu cách ly (Nhóm I). Tỷ lệ này chiếm 14 trong số 29 (48,2%) nữ và 37 trong số 64 (57,8%) nam. Nhu cầu oxy khi chuyển viện ngả nghiêng từ 2 đến 5 L/phút ở nhóm này, không yêu cầu thông khí không xâm nhập (NIV) và cai oxy được hoàn tất trong khoảng thời kì từ một đến bốn ngày. Do đó, nhiều nam hơn có thể cai oxy thành công trong thời gian cách ly, tuy nhiên điều này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,39).

Tuổi của bệnh nhân cai oxy thành công dao động từ 26-82 tuổi (nhàng nhàng 58,5 ± 14,3 tuổi, trung vị 60 tuổi); 13 (25,5%) bệnh nhân <50 tuổi.="" thời="" gian="" nằm="" viện="" trong="" nhóm="" này="" trước="" khi="" chuyển="" đến="" khu="" cách="" ly="" dao="" động="" từ="" 10="" 23="" ngày="" (trung="" bình="" 11="" ngày),="" với="" 13="" bệnh="" nhân="" được="" ccu.="" đối="" 45="" (88,2%)="" có="" thể="" xuất="" ly,="" tỷ="" lệ="" los="" trung="" là="" 4,6="" ±="" 1,6="" ngày.<="p">

Bốn mươi bệnh nhân trong Nhóm I có ít ra một bệnh đồng mắc. Mười tám bệnh nhân mắc một, 17 bệnh nhân có hai và năm bệnh nhân mắc ≥ ba bệnh (Bảng 2). Bệnh đồng mắc phổ quát nhất là đái tháo đường týp II (25, 49%). Những người khác bao gồm tăng huyết áp (24, 47%), cả đái tháo đường và tăng huyết áp (16, 31,6%), béo phì (BMI 35kg/m 2 ) (sáu, 11,7%), bệnh phổi tiềm ẩn (4, 7,8%) và tiền sử tim mạch bệnh (CVD) (ba, 5,8%). Ở những bệnh nhân <50 tuổi,="" bốn="" trong="" số="" 13="" người="" có="" các="" bệnh="" đồng="" mắc,="" phổ="" biến="" nhất="" là="" béo="" phì="" (ba="" bốn,="" 75%).<="p">

Bảng 2 bản tính của các bệnh đồng mắc trong tất dân số nghiên cứu, Nhóm I và Nhóm II.

Nature of co-morbidity

Total (%)

Group I Weaned (% with morbidity)

Group II Not weaned (% with morbidity)

Diabetes mellitus

26 (43.3)

34 (56.6)

Hypertension

25 (58.1)

18 (41.9)

Diabetes+ Hypertension

16 (51.6)

15 (48.4)

Pre-existing lung disease

4 (57.1)

3 (42.9)

COPD

4

3

1

COPD + Pulmonary TB

1

1

0

ILD

2

0

2

CVD

14 (15)

3 (21.4)

11 (78.6)

CAD

11

2

9

DCMY

2

1 (EF <35%)< p="">

1 (EF <25%)< p="">

New Onset LVF

1

0

1

Morbid Obesity

8 (8.6)

6 (75)

2 (25)

Psychosis/ Bi-polar disorder

3 (3.2)

0

3 (100)

CKD

2 (2.1)

0

2 (100)

COPD: bệnh phổi tắc nghẽn kinh niên, ILD: bệnh phổi kẽ, CVD: bệnh tim mạch, CAD: bệnh mạch vành, DCMY: bệnh cơ tim giãn, LVF: suy thất trái, EF: phân suất tống máu, CKD: bệnh thận mạn tính.

Mười bảy bệnh nhân trong Nhóm I sang HRCT lồng ngực, trong đó chừng độ nghiêm trọng được thưa là nhẹ ở sáu (35,3%), làng nhàng ở ba (17,6%) và nặng ở bảy (41%). Một trường hợp được thưa là xơ hóa phổi kèm theo giãn phế quản, có thể là di chứng của nhiễm COVID-19 trong giai đoạn bình phục. Một bệnh nhân bị tràn dịch màng phổi một bệnh nhân nhẹ và hai bệnh nhân nặng chẳng thể xuất viện dù đã được cai oxy bằng oxy.

Không có bệnh nhân nào trong Nhóm I đề nghị coi sóc CCU sau khi được chuyển đến hoặc từ khu cách ly. Không có tử vong trong Nhóm I.

Bốn mươi hai (45%) bệnh nhân chẳng thể cai được oxy trong thời gian họ nằm trong khu cách ly (Nhóm II). Tỷ lệ này chiếm 15/29 (51,7%) nữ và 27/64 (42,1%) nam. Nhu cầu oxy nao núng trong khoảng 3-8 L/phút tại thời điểm chuyển đến khu cách ly, tám bệnh nhân cần NIV trong thời gian tạm cư và sáu bệnh nhân phải chuyển đến CCU trong thời gian cách ly do nhu cầu oxy ngày một tăng và chẳng thể duy trì. độ bão hòa 90% dù rằng được trông nom tương trợ tối đa. Tuổi của bệnh nhân nhóm II ngả nghiêng từ 25-86 tuổi (nhàng nhàng 64 ± 12,4 tuổi, trung bình 67 tuổi). Ba mươi bảy trong số 42 (88,1%) ≥50 tuổi và năm trong số 42 (11,9%) <50 tuổi.="" thời="" gian="" nằm="" viện="" trước="" khi="" chuyển="" đến="" khu="" cách="" ly="" dao="" động="" từ="" 10="" 30="" ngày,="" trung="" bình="" là="" 17="" với="" 12="" bệnh="" nhân="" được="" ccu.="" không="" có="" nào="" trong="" nhóm="" này="" thể="" xuất="" khỏi="" ly,="" hai="" đã="" chọn="" theo="" lời="" khuyên="" của="" bác="" sĩ.="" 31="" (73,8%)="" các="" cơ="" sở="" covid="" để="" tiếp="" tục="" quản="" lý="" sau="" hoàn="" thành="" giai="" đoạn="" ly.<="p">

Bốn mươi mốt (97,6%) bệnh nhân trong Nhóm II mắc các bệnh đồng mắc. Mười lăm có một, 14 có hai và 12 có ≥ ba bệnh đi kèm (Bảng 2). Bệnh đồng mắc phổ quát nhất là đái tháo đường týp II (34, 80,9%). Những người khác bao gồm tăng áp huyết (18, 42,8%), cả đái tháo đường và tăng áp huyết (15, 35,7%), CVD từ trước (10, 23,8%), nghi ngờ viêm cơ tim có suy thất trái (LVF) (một, 2,3%), rối loạn lưỡng cực dùng thuốc chống rối loạn thần kinh (ba, 7,1%), bệnh phổi từ trước (ba, 7,1%), béo phì (BMI 35Kg/m2) (hai, 4,7%), và bệnh thận mạn tính (CKD) (hai, 4,7 %). Ở nhóm tuổi <50 tuổi,="" cả="" 5="" người="" đều="" có="" bệnh="" đồng="" mắc,="" trong="" đó="" phổ="" biến="" nhất="" là="" đái="" tháo="" đường="" (3="5" người,="" 60%);="" các="" mắc="" khác="" bao="" gồm="" rối="" loạn="" tâm="" thần="" và="" béo="" phì.<="p">

16 bệnh nhân (38%) trong Nhóm II đã sang trọng HRCT lồng ngực; chừng độ nghiêm trọng được mỏng là nhẹ ở một (6,2%), nhàng nhàng ở bốn (25%), nặng ở 10 (62,5%) và một (6,2%) được vắng là bệnh phổi kẽ (ILD). Bảy trong số 10 trường hợp bị điểm nặng cần được trông nom CCU, năm trường hợp trước và hai trường hợp sau khi chuyển đến khu cách ly, cả hai đều có điểm ≥22/25. Không ai trong số 14 bệnh nhân còn lại có thể được xuất viện khỏi khu cách ly. Bệnh nhân bị điểm nhẹ hết hạn, cô ấy có nhiều bệnh đồng mắc bao gồm CAD và bệnh cơ tim giãn nở (DCMY).

Có ba trường hợp tử vong ở Nhóm II. Tuổi của những bệnh nhân này nghiêng ngả trong khoảng 73-86 tuổi (trung bình 81,3 ± 7,2 tuổi), và LOS từ một đến tám ngày (trung bình 3,3 ngày). Cả ba đều có chung ≥ 3 bệnh đồng mắc với CAD và đái tháo đường týp II. Nhu cầu oxy tổng thể là 5 L/phút, với một bệnh nhân được chuyển từ CCU cần NIV. CAD với bệnh đái tháo đường ở bệnh nhân cao tuổi có nguy cơ tử vong rất cao (RR 40, p <0,01).< p="">

Sự hiện diện của các bệnh đồng mắc cùng liên hệ đến các kết quả bất lợi, cũng như số lượng các bệnh đồng mắc trong nghiên cứu này. Tuổi tác ngày một tăng là một nguyên tố kép cho sự hiện diện của các bệnh đồng mắc. Mười tám bệnh nhân <50 tuổi,="" chín="" (50%)="" không="" có="" bệnh="" đồng="" mắc,="" tất="" cả="" đều="" thể="" cai="" oxy="" và="" xuất="" viện="" với="" los="" trung="" bình="" 3,6="" ±="" 1,2="" ngày.="" nguy="" cơ="" đối="" nhân="" <50="" tuổi="" cao="" hơn="" đáng="" kể="" khi="" so="" những="" người="" mắc="" (rr="" 4,="" ktc="" 95%="" 1,5-10,6,="" thống="" kê="" z="" 2,7,="" p="0,005)." các="" thường="" gặp="" ở="" độ="" là="" đái="" tháo="" đường="" týp="" ii="" (5="18," 27,7%)="" béo="" phì="" (bmi=""> 35Kg/m2) (4/18, 22,2%). Bệnh tiểu đường loại II, béo phì và rối loạn tâm thần có can hệ đến khả năng cai oxy của bệnh nhân <50 tuổi.<="p">

17 bệnh nhân ở các nhóm tuổi khác nhau có ≥ 3 bệnh đồng mắc, nguy cơ không cai được oxy ở họ so với những bệnh nhân có hai bệnh đồng mắc trở xuống là có ý nghĩa thống kê (RR 1,79, KTC 95% 1,1-2,7, thống kê z 2,7, p = 0,006). Tám bệnh nhân trong số này đề nghị nhập viện săn sóc nguy khốn (RR 2,1, KTC 95% 1,09-4,05, thống kê z 2,2, p = 0,02) và tất các trường hợp tử vong đều xảy ra ở những bệnh nhân có ≥ 3 bệnh tật (p = 0,02). Do đó, những bệnh nhân có ba bệnh đồng mắc trở lên có nguy cơ nhập viện CCU, nhu cầu oxy kéo dài và tử vong cao hơn đáng kể.

Đái tháo đường týp II là bệnh đồng mắc phổ biến nhất, có ở 60/93 (64,5%) bệnh nhân cần điều trị oxy tại thời điểm chuyển đến khu cách ly. Điều này cũng đúng đối với bệnh nhân trẻ <50 tuổi="" cần="" thời="" gian="" nằm="" viện="" kéo="" dài="" (năm="" trong="" số="" 18,="" 27,7%).="" phân="" tích="" hồi="" quy="" đa="" biến="" cho="" thấy="" bệnh="" nhân="" đái="" tháo="" đường="" týp="" ii="" nghiên="" cứu="" của="" chúng="" tôi="" có="" nguy="" cơ="" nhu="" cầu="" oxy="" cao="" hơn="" và="" gấp="" 3,34="" lần="" khi="" không="" cai="" được="" ở="" những=""> 50 tuổi có nhiều bệnh đồng mắc (OR 3,34, p <0,046, 95%="" ci="" 1,01-10,9).<="p">

Mười bốn trong số 93 (14,9%) bệnh nhân điều trị bằng oxy có bệnh tim mạch. 11 trong số 42 (26,1%) bệnh nhân chẳng thể cai oxy (Nhóm II) có CVD (RR 2,03, KTC 95% 1,38-2,98, thống kê z 3,6, p <0,0003). cad="" hiện="" diện="" ở="" 11="" (78,5%)="" bệnh="" nhân="" cvd;="" tuổi="" trung="" bình="" của="" mắc="" là="" 74,9="" ±="" 6,3="" tuổi,="" cao="" hơn="" 14,4="" so="" với="" dân="" số="" nghiên="" cứu="" và="" 10="11" trường="" hợp="" (90,9%)="" nam="" giới.="" phân="" tích="" hồi="" quy="" đa="" biến="" tính="" toán="" or="" 12,22="" (ktc="" 95%="" 2,4-61,5,="" p="" <0,002)="" đối="" không="" cai="" oxy="" phục="" chậm=""> 50 tuổi và có nhiều bệnh đồng mắc. Cả ba bệnh nhân hết thời kì điều trị tại khu cách ly đều có CAD cùng với các tình trạng đồng bệnh khác (RR 40, KTC 95% 4-742, thống kê z 2,4, p = 0,01). Do đó, CAD nghe đâu là một bệnh đồng mắc có nguy cơ rất cao đối với những bệnh nhân bị nhiễm COVID-19.

Bảy trong số 93 (7,5%) bệnh nhân đã có bệnh phổi từ trước. Tình trạng phổi tồn tại từ trước phổ quát nhất là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) ở 5 người, sau đó là bệnh phổi kẽ (ILD) ở 2 người. Bốn bệnh nhân đã được chuyển đến từ CCU (ba trường hợp COPD và một trường hợp ILD). Một bệnh nhân mắc COPD cũng có bệnh lao phổi kèm theo và đang được điều trị bằng thuốc chống lao. Bốn trường hợp COPD (80%) có thể được cai oxy. Cả bốn đều được xuất viện thành công khỏi khu cách ly với LOS nhàng nhàng là 3,7 ± 0,95 ngày. Một trường hợp COPD và cả hai trường hợp ILD cần NIV đều không thể cai oxy được. Do đó, bệnh nhân ILD cần thời gian tương trợ oxy lâu hơn so với những bệnh nhân COPD.

HRCT lồng ngực được thực hiện ở 33 bệnh nhân trong nghiên cứu này. Bảy bệnh nhân bị nhẹ, bảy làng nhàng và 17 có điểm nặng, một bệnh nhân được mỏng là xơ hóa với giãn phế quản, có thể là di chứng của bệnh nặng trong tuổi phục hồi và một bệnh khác được ít là ILD. Tỷ lệ mắc gia tăng gặp ở những bệnh nhân có điểm nặng: 10/17 (58,8%) không cai được oxy; những bệnh nhân này cũng yêu cầu tốc độ dòng oxy bao gồm NIV cao hơn so với một trong bảy (14,2%) với điểm nhẹ (p = 0,13). Mười một bệnh nhân có điểm nặng (64,7%) yêu cầu nhập viện CCU so với một (14,2%) ở nhóm nhẹ và hai (28,4%) ở nhóm điểm trung bình (p = 0,109).

bàn thảo

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã cố kỉnh phân loại các phát hiện dịch tễ học và HRCT ngực can hệ đến việc điều trị bằng oxy kéo dài ở 93 bệnh nhân mắc bệnh COVID-19 từ làng nhàng đến nặng và xác định các chỉ số tiên lượng cho kết quả xấu. tất tật bệnh nhân có thời kì nằm viện trung bình là 14 ngày trong các cơ sở dương tính với COVID của bệnh viện trước khi được đưa vào nghiên cứu chuyển đến khu cách ly sau khi xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2. Những bệnh nhân có LOS lâu hơn ở những cơ sở dương tính với COVID trước khi chuyển viện khó cai oxy hơn và đại diện cho những bệnh nhân ốm nặng hơn với bệnh nặng hơn.

Các yếu tố nguy cơ cao dẫn đến kết cuộc xấu và các chỉ số tiên đoán cho nhiễm COVID-19 chưa được hiểu rõ. Trong nghiên cứu này, một số lượng lớn nam giới (64, 68,8%) bị ảnh hưởng so với nữ giới (29, 31,2%), với tỷ lệ M: F là 2,2:1. Sự phân bố giới tính này cũng đã được quan sát thấy trong các nghiên cứu khác đối với các bệnh nhiễm trùng Coronavirus khác nhau [5]. Nhiễm sắc thể X và các hormone sinh dục nữ được cho là đóng một vai trò quan yếu trong khả năng miễn dịch bẩm sinh chống lại SARS-CoV-2 ở nữ giới [6]. Ảnh hưởng của giới tính đến kết quả lâm sàng ở bệnh nhân COVID-19 vẫn còn nhiều bàn cãi [7,8]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhiều nam có thể cai oxy thành công trong thời gian cách ly so với nữ, tuy nhiên điều này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,39). Tình trạng chậm phục hồi và trở lại sức khỏe thường ngày đã được báo cáo ở những bệnh nhân nhập viện mắc COVID-19 tuổi 50 với các bệnh đồng mắc so với nhóm tuổi trẻ hơn hoặc những người không có bệnh đồng mắc [2]. Một nghiên cứu vắng tỷ lệ bệnh nặng đến nguy khốn và diễn tiến nhanh dẫn đến tử vong sau khi nhập viện ở bệnh nhân trên 60 tuổi mắc chứng khó thở; ARDS, CAD và COPD là những nhân tố dự báo tử vong mạnh [9].

Tuổi trung bình của những bệnh nhân có kết quả kém trong nghiên cứu của chúng tôi lớn hơn 6 ± 2,1 tuổi và tuổi trung bình lớn hơn bảy tuổi so với những bệnh nhân có kết quả tiện lợi. Tuổi ≥60 có can dự đến thời gian nằm viện kéo dài và nhu cầu oxy với RR là 1,43 (KTC 95% 0,9-2, thống kê z 1,9, p = 0,051) so với những người <50 tuổi.="" cả="" ba="" bệnh="" nhân="" tử="" vong="" trong="" nghiên="" cứu="" của="" chúng="" tôi="" đều=""> 70 tuổi (trung bình 81,3 ± 7,2 tuổi) và có nhiều bệnh lý mắc kèm. Nguy cơ không cai được oxy và chậm hồi phục ở bệnh nhân trẻ <50 tuổi="" khi="" có="" bệnh="" đồng="" mắc="" cao="" hơn="" đáng="" kể="" so="" với="" những="" người="" không="" ở="" nhóm="" này="" (rr="" 4,="" ktc="" 95%="" 1,5-10,6,="" thống="" kê="" z="" 2,7="" ,="" p="0,005)." tiểu="" đường,="" béo="" phì="" và="" rối="" loạn="" tâm="" thần="" liên="" quan="" đến="" khả="" năng="" cai="" oxy="" của="" nhân="" <50="" tuổi.<="p">

Đái tháo đường týp II là bệnh đồng mắc phổ biến nhất, có ở 60/93 (64,5%) bệnh nhân cần điều trị oxy tại thời khắc chuyển đến khu cách ly. Điều này cũng đúng đối với bệnh nhân trẻ <50 tuổi="" cần="" thời="" gian="" nằm="" viện="" kéo="" dài="" (năm="" trong="" số="" 18,="" 27,7%).="" bệnh="" nhân="" đái="" tháo="" đường="" được="" biết="" là="" bị="" nhiễm="" covid-19="" nặng="" với="" kết="" quả="" bất="" lợi;="" bản="" thân="" trùng="" có="" thể="" cản="" trở="" việc="" kiểm="" soát="" huyết="" hiệu="" quả,="" theo="" dõi="" chặt="" chẽ="" và="" quản="" lý="" cẩn="" thận="" ở="" [10].="" một="" nghiên="" cứu="" đã="" tìm="" thấy="" mối="" liên="" quan="" giữa="" tiểu="" ards,="" nhập="" ccu="" tử="" vong="" [11,12].="" xếp="" vào="" danh="" sách="" ba="" đồng="" mắc="" hàng="" đầu="" tổng="" tỷ="" lệ="" cao="" tới="" 78%="" các="" trường="" hợp="" tại="" đơn="" vị="" chăm="" sóc="" đặc="" biệt="" (icu)="" [13].<="p">

phân tách logistic đa biến cho thấy bệnh nhân đái tháo đường týp II trong nghiên cứu của chúng tôi có nguy cơ nhu cầu oxy kéo dài và cao hơn 3,34 lần khi không cai oxy được ở những bệnh nhân 50 tuổi có nhiều bệnh đồng mắc (OR 3,34, p <0,046, 95%="" ci="" 1,01-10,9).="" tổng="" hợp="" một="" số="" nghiên="" cứu="" trên="" toàn="" cầu="" đã="" gợi="" ý="" rằng="" bệnh="" nhân="" đái="" tháo="" đường="" có="" khả="" năng="" gia="" tăng="" các="" kết="" cục="" bất="" lợi="" bao="" gồm="" tử="" vong,="" tuy="" nhiên="" yếu="" tố="" nguy="" cơ="" hiện="" khác="" thể="" góp="" phần="" vào="" luận="" nhau="" [14].="" đa="" trung="" tâm="" của="" pháp="" coronado="" không="" tìm="" thấy="" sự="" biệt="" về="" quả="" với="" tiểu="" loại="" i="" và="" ii="" nhiễm="" covid-19,="" nhiên,="" dịch="" vụ="" y="" tế="" quốc="" anh="" (nhs)="" nhiều="" bị="" hơn="" [15,16].="" nào="" trong="" chúng="" tôi="" i.<="p">

Các tình trạng đồng bệnh khác được mỏng trong các nghiên cứu khác nhau như các yếu tố nguy cơ nhập viện và nhiễm COVID-19 nặng bao gồm tăng huyết áp, CAD, CKD và béo phì [17,18]. Tăng huyết áp gặp ở 43/93 (46,2%) và là bệnh đồng mắc phổ thông thứ hai trong nghiên cứu của chúng tôi. 31 bệnh nhân (33%) bị cả tiểu đường và tăng áp huyết.

Tỷ lệ hiện mắc CAD trong nhiễm COVID-19 đã được thưa là 2,5 đến 10% trong các nghiên cứu khác nhau [19,20]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ này là 11/93 (11,8%). Tuổi nhàng nhàng của bệnh nhân mắc CAD được biết là lớn hơn với cốt yếu là nam giới [21]. Chín mươi phần trăm bệnh nhân mắc CAD trong nghiên cứu của chúng tôi là nam giới và tuổi làng nhàng của họ cao hơn 14,4 ± 7,3 tuổi so với bệnh nhân không mắc CAD. Một số nghiên cứu đã ít sự gia tăng nguy cơ ARDS, nhập viện CCU, nhu cầu thở máy và tử vong ở bệnh nhân CAD có nhiễm COVID-19, tuy nhiên không rõ ràng về chừng độ nguy cơ gia tăng do CAD như một nguyên tố nguy cơ độc lập [20,21]. Những bệnh nhân mắc CAD trong nghiên cứu của chúng tôi có nguy cơ bị kết cuộc bất lợi cao hơn đáng kể khi nhập viện kéo dài, điều trị bằng oxy, nhập viện CCU và tử vong; phân tách hồi quy đa biến OR tính nết là 12,22 (KTC 95% 2,4-61,5, p <0,002) đối="" với="" trường="" hợp="" không="" cai="" oxy="" và="" phục="" hồi="" chậm="" ở="" bệnh="" nhân="" cad=""> 50 tuổi có nhiều bệnh đồng mắc. Cả 3 trường hợp tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi đều xảy ra ở những bệnh nhân mắc CAD, họ đều 70 tuổi và có ≥ 3 bệnh đồng mắc. Trong một nghiên cứu từ Ý, xác suất tử vong không điều chỉnh ở những bệnh nhân có CAD là 0,49 so với 0,20 ở những người không có CAD. Tuy nhiên, sau khi phân tích đa biến và điều chỉnh tỷ lệ nguy cơ (aHR), nghiên cứu kết luận rằng mặc dầu bệnh nhân CAD nhiễm COVID-19 có nguy cơ tử vong rất cao, nó có thể là do gánh nặng của các bệnh đồng mắc khác chứ không phải do CAD [21]. Hai biến số có can hệ độc lập với tử vong do mọi duyên do trong nghiên cứu của họ là tuổi cao (làm tăng nguy cơ) và giới tính nữ (giảm nguy cơ) [21].

Một nhóm thuần tập ở Pháp cho thấy béo phì (BMI 35kg/m 2 ) là một nguyên tố dự báo mạnh về nhu cầu thông khí; tỷ lệ chênh lệch đa biến là 7,36 sau khi điều chỉnh tuổi, giới tính, đái tháo đường và tăng áp huyết [22]. Nghiên cứu Open- SAFELY cũng báo cáo rằng nguy cơ tử vong tăng theo BMI, từ HR 1,40 đối với béo phì loại II (BMI 3539,9kg/m 2 ) lên 1,92 đối với béo phì loại III (BMI ≥40kg/m 2 ) [23]. Các nghiên cứu đã vắng rằng sự gia tăng BMI làm tăng ứng với nguy cơ nhập viện [24] và béo phì là một nguyên tố dự báo độc lập của nhiễm trùng nghiêm trọng (đa biến OR 3.0) [25]. Tám bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có BMI 35kg/m 2 , trong đó năm bệnh nhân phải nhập viện CCU và hai bệnh nhân chẳng thể cai oxy trong khu cách ly. Béo phì nổi lên như một nhân tố nguy cơ quan trọng đối với việc nhập viện CCU (RR 2,6, KTC 95% 1,3-5,1, p <0,003) và="" là="" một="" bệnh="" đồng="" mắc="" quan="" trọng="" ở="" những="" nhân="" <50="" tuổi="" cần="" nhập="" viện="" kéo="" dài="" điều="" trị="" bằng="" oxy="" (bốn="" trong="" số="" 18,="" 22,2="" %).<="p">

Do tác động tàn phá của nhiễm trùng COVID-19 đối với mô phổi, có lý do để lo sợ về kết quả của nhiễm trùng này ở những bệnh nhân mắc bệnh phổi kinh niên tiềm tàng. Tỷ lệ mắc COPD ở bệnh nhân COVID-19 nhập viện chao đảo từ 0 đến 14% trong các nghiên cứu khác nhau và được ít là có can dự đến nhiễm trùng nặng [26]. Một phân tích nguy cơ đối với kết quả bất lợi ở 1590 bệnh nhân COVID-19 trên khắp Trung Quốc bẩm OR là 2,681 (95% CI 1,424-5,048, p = 0,002) khi nhập viện ICU, thở máy hoặc tử vong sau khi điều chỉnh theo tuổi và hút thuốc ở bệnh nhân COPD [27]. Một nghiên cứu đa trung tâm quốc tế về kết cuộc nhiễm COVID-19 ở bệnh nhân ILD nhập viện đã kết luận rằng những bệnh nhân này (đặc biệt là ILD xơ hóa) có nguy cơ tử vong cao hơn. Nguy cơ gia tăng theo tuổi, giới tính nam, béo phì và chức năng phổi kém trước nhiễm trùng trong phạm vi bệnh từ trung bình đến nặng [28]. Trong nghiên cứu của chúng tôi, bảy (7,5%) bệnh nhân có bệnh phổi kinh niên tiềm ẩn, trong đó COPD phổ biến hơn ở năm (5,3%) và ILD ở hai (2,1%). Một bệnh nhân COPD và cả hai bệnh nhân ILD chẳng thể cai được oxy trong khu cách ly. Bệnh nhân ILD cần thời kì nằm viện lâu hơn và được hỗ trợ oxy nếu không cai oxy được so với những bệnh nhân COPD.

Nhiễm COVID-19 với nhiều hơn một bệnh đồng mắc khiến bệnh nhân dễ bị thương tổn do tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong. Trong một nghiên cứu từ thị thành New York, 88% bệnh nhân nhập viện có ≥ hai bệnh đồng mắc so với 6,3% mắc một bệnh [29]. Một hệ thống tính điểm để dự đoán kết cục bất lợi ở bệnh nhân COVID-19 cho thấy số bệnh đồng mắc (OR 1,6) là một trong 10 biến số quan yếu để đánh giá rủi ro [30]. Nhiều tình trạng đồng bệnh cùng liên hệ đến kết quả kém trong nghiên cứu của chúng tôi. Ba bệnh đồng mắc trở lên có liên can đến tăng nguy cơ nhập viện CCU (RR 2,1, p = 0,02), không cai được với nhu cầu oxy kéo dài (RR 1,79, p <0,006) và="" tử="" vong="" (p="0,02).

Hạn chế

Nghiên cứu của chúng tôi đã có một số hạn chế; đó là một nghiên cứu trọng tâm đơn lẻ với quy mô mẫu nhỏ. Đối tượng nghiên cứu chỉ bao gồm những bệnh nhân COVID-19 không thể xuất viện và được chuyển đến khu cách ly sau khi xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2. Việc quan sát nghiên cứu chỉ giới hạn trong thời gian ở trong khu cách ly, thiếu sự theo dõi thêm về kết quả sau khi chuyển hoặc xuất viện. Lời khuyên cho HRCT lồng ngực không phải là một phác đồ quản lý xác định trong thời gian nghiên cứu và do đó không vận dụng cho quơ bệnh nhân.

Kết luận

Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi phát hiện ra rằng những bệnh nhân mắc COVID-19 vẫn nằm viện sau khi xét nghiệm âm tính với SARS-CoV-2 thì nam nhiều hơn nữ gấp đôi. Bệnh nhân ≥60 tuổi có nguy cơ cao hơn đối với nhu cầu oxy kéo dài so với bệnh nhân trẻ <50 tuổi,="" tuy="" nhiên="" điều="" này="" không="" có="" ý="" nghĩa="" thống="" kê.="" bệnh="" nhân="" ≥="" 3="" đồng="" mắc="" nguy="" cơ="" đáng="" kể="" khi="" nhập="" viện="" ccu,="" chậm="" hồi="" phục="" và="" tử="" vong.="" đái="" tháo="" đường="" týp="" ii,="" cad,="" ild="" béo="" phì="" (bmi=""> 35kg/m 2 ) là những nguyên tố nguy cơ quan trọng dẫn đến thất bại trong việc cai oxy và chậm hồi phục ở bệnh nhân COVID-19 ≥50 tuổi. Ở những bệnh nhân trẻ <50 tuổi,="" đái="" tháo="" đường,="" béo="" phì="" và="" rối="" loạn="" tâm="" thần="" cần="" dùng="" thuốc="" chống="" là="" những="" yếu="" tố="" nguy="" cơ="" làm="" chậm="" hồi="" phục.<="p">

References

Virology, epidemiology, pathogenesis, and control of COVID-19. Jin Y, Yang H, Ji W, Wu W, Chen S, Zhang W, Duan G. Viruses. 2020;27:12. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

COVID-19 Lombardy ICU Network. Baseline characteristics and outcomes of 1591 patients infected with SARS-CoV2 admitted to ICUs of the Lombardy Region, Italy. Grasselli G, Zangrillo A, Zanella A, et al. https://doi.org/10.1001/jama.2020.5394. JAMA. 2020;323:1574–1581. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Revised Discharge Policy for COVID 19. [Jun;2020 ];https://www.mohfw.gov.in/pdf/ReviseddischargePolicyfor COVID19.pdf 2020

Six month radiological and physiological outcomes in severe acute respiratory syndrome (SARS) survivors. Ng CK, Chan JW, Kwan TL, To TS, Chan YH, Ng FY, Mok TY. Thorax. 2004;59:889–891. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Sex-based differences in susceptibility to severe acute respiratory syndrome coronavirus infection. Channappanavar R, Fett C, Mack M, Ten Eyck PP, Meyerholz DK, Perlman S. J Immunol. 2017;198:4046–4053. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Sex hormones regulate innate immune cells and promote sex differences in respiratory virus infection. Kadel S, Kovats S. Front Immunol. 2018;2018:9. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

COVID- 19: the gendered impacts of the outbreak. Wenham C, Smith J, Morgan R. Lancet. 2020;395:846–848. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Mortality impacts of the coronavirus disease (COVID-19) outbreak by sex and age: rapid mortality surveillance system, Italy, 1 February to 18 April. Michelozzi P, de'Donato F, Scortichini M, De Sario M, Noccioli F, Rossi P, Davoli M. Eurosurveillance. 2020;25:2000620. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Coronavirus disease 2019 in elderly patients: characteristics and prognostic factors based on 4-week follow-up. Wang L, He W, Yu X, Hu D, Bao M, Liu H, Zhou J, Jiang H. J Infect. 2020;80:639–645. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Managing hyperglycemia in the COVID-19 inflammatory storm. Gianchandani R, Esfandiari NH, Ang L, Iyengar J, Knotts S, Choksi P, Pop-Busui R. Diabetes. 2020;69:2048–2053. [PubMed] [Google Scholar]

Clinical characteristics of 138 hospitalized patients with 2019 novel coronavirus-infected pneumonia in Wuhan, China. Wang D, Hu B, Hu C, et al. JAMA. 2020;323:1061–1069. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Clinical course and risk factors for mortality of adult inpatients with COVID-19 in Wuhan, China: a retrospective cohort study. Zhou F, Yu T, Du R, et al. Lancet. 2020;395:1054–1062. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Preliminary estimates of the prevalence of selected underlying health conditions among patients with Coronavirus Disease 2019 - United States, February 12-March 28, 2020. CDC COVID-19 Response Team. MMWR Morb Mortal Wkly Rep. 2020;69:382–386. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

COVID-19 and diabetes: a collision and collusion of two diseases. Feldman EL, Savelieff MG, Hayek SS, Pennathur S, Kretzler M, Pop-Busui R. Diabetes. 2020;69:2549–2565. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Phenotypic characteristics and prognosis of inpatients with COVID-19 and diabetes: the CORONADO study. Cariou B, Hadjadj S, Wargny M, et al. Diabetologia. 2020;63:1500–1515. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Risk factors for COVID-19-related mortality in people with type 1 and type 2 diabetes in England: a population-based cohort study. Holman N, Knighton P, Kar P, et al. Lancet Diabetes Endocrinol. 2020;8:823–833. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Clinical characteristics and morbidity associated with coronavirus disease 2019 in a series of patients in metropolitan Detroit. Suleyman G, Fadel RA, Malette KM, et al. JAMA Netw Open. 2020;3:2012270. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Factors associated with hospital admission and critical illness among 5279 people with coronavirus disease 2019 in New York City: prospective cohort study. Petrilli CM, Jones SA, Yang J, et al. BMJ. 2020;369:1966. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Clinical characteristics of patients who died of coronavirus disease 2019 in China. Xie J, Tong Z, Guan X, Du B, Qiu H. JAMA Netw Open. 2020;3:205619. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Characteristics of and important lessons from the coronavirus disease 2019 (COVID-19) outbreak in China: summary of a report of 72 314 cases from the Chinese Center for Disease Control and Prevention. Wu Z, McGoogan JM. JAMA. 2020;323:1239–1242. [PubMed] [Google Scholar]

Coronary artery disease in patients hospitalised with corona virus disease 2019 (COVID-19) infection. Loffi M, Piccolo R, Regazzoni V, et al. Open Heart. 2020;7:1428. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

High prevalence of obesity in severe acute respiratory syndrome coronavirus-2 (SARS-CoV-2) requiring invasive mechanical ventilation. Simonnet A, Chetboun M, Poissy J, et al. Obesity (Silver Spring) 2020;28:1195–1199. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Factors associated with COVID-19-related death using Open SAFELY. Williamson EJ, Walker AJ, Bhaskaran K, et al. Nature. 2020;584:430–436. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Factors associated with hospital admission and critical illness among 5279 people with coronavirus disease 2019 in New York City: prospective cohort study. Petrilli CM, Jones SA, Yang J, et al. BMJ. 2020;369:1966. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Obesity is a risk factor for greater COVID-19 severity. Gao F, Zheng KI, Wang XB, et al. Diabetes Care. 2020;43:72– 74. [PubMed] [Google Scholar]

COVID-19 and COPD. Leung JM, Niikura M, Yang CW, Sin DD. Eur Respir J. 2020;56:2002108. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Comorbidity and its impact on 1590 patients with Covid-19 in China: a nationwide analysis. Guan WJ, Liang WH, Zhao Y, et al. Eur Respir J. 2020;55:2000547. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Outcome of hospitalization for COVID-19 in patients with interstitial lung disease. An international multicenter study. Drake TM, Docherty AB, Harrison EM, et al. Am J Respir Crit Care Med. 2020;202:1656–1665. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Presenting characteristics, comorbidities, and outcomes among 5700 patients hospitalized with COVID-19 in the New York City area. Richardson S, Hirsch JS, Narasimhan M, et al. JAMA. 2020;323:2052–2059. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Development and validation of a clinical risk score to predict the occurrence of critical illness in hospitalized patients with COVID-19. Liang W, Liang H, Ou L, et al. JAMA Intern Med. 2020;180:1081–1089. [PMC free article] [PubMed] [Google Scholar]

Artikel Terkait

Back To Top